Làm sao có được những gì bạn muốn
Xem bai viet bang font ABC

    Dù đang cân nhắc một hệ máy mới có sẵn hay một máy PC theo ý riêng, chiếc máy mong ước của bạn có thể mạnh hơn bạn nghĩ. á

    Trong kỹ thuật tính toán, mỗi ngày mang lại một sự đổi mới; mỗi sự đổi mới mang lại một sản phẩm mới; và mỗi sản phẩm mới mang lại một tiêu chuẩn mới. Nếu bạn đang tìm kiếm trên thị trường một hệ PC mới, quá trình ra quyết định có thể là quá sức. Các câu hỏi quan trọng đòi hỏi phải trả lời bao gồm "Làm sao tôi có thể tận dụng khả năng nhiều nhất với số tiền ít nhất?" và "Làm sao tôi biết được thế nào thì tốt, có nghĩa là đủ tốt cho yêu cầu của tôi?".

    Câu trả lời cho những câu hỏi đó và nhiều câu hỏi quan trọng khác sẽ trở nên rõ ràng nếu bạn tuân theo một nguyên tắc mua máy tính cơ bản sau: Dù bạn muốn mua một hệ thống đã được chuẩn bị sẵn hay bạn muốn lắp ráp máy PC mới của riêng mình, hãy nên đưa ra quyết định mua máy từng bước một. Trong bài báo này, bạn sẽ khảo sát những thành phần chính của PC và những chỉ dẫn về tính năng đối với các hệ thực hiện mức cao và có khả năng mua được nhất. (Xem "Một hệ thống hợp với túi tiền" đi kèm bài).

CHọN MộT Hệ THốNG

    Khả năng đứng vững được của một hệ thống máy tính tốt phụ thuộc vào ba thành phần: kiểu loại CPU, tốc độ CPU và cấu trúc bus của hệ thống.

CPU - trí tuệ trung tâm

    Bộ xử lý trung tâm CPU (Central processing unit) là một chip nhỏ bằng khoảng một con tem bưu điện, kiểm soát hoạt động của máy tính.

    Bộ xử lý 386 CPU đáng kính - khởi đầu cho quản lý bộ nhớ ảo và chế độ đa nhiệm của Windows và OS/2 đã được thay thế bởi 486 và Pentium (586) ở mức cao. Như thế, bạn sẽ hỏi, chỉ với hai loại CPU, làm sao có thể có nhiều loại máy tính đến như vậy?

    Câu trả lời trở nên rõ ràng hơn khi bạn hiểu rằng mỗi chip lại có các tốc độ (clock speed) khác nhau, tốc độ này xác định mức độ máy tính có thể thực hiện các công việc đa nhiệm nhanh tới mức nào. Chẳng hạn, 486 có các bản 66, 80 và 100MHz, trong khi Pentium có 60, 66, 75, 90, 100, 120 và 133MHz.

    Tóm lại, nếu bạn sử dụng một loạt các ứng dụng định hướng chuyên nghiệp và đồ họa, tốc độ xung nhịp càng lớn càng tốt. Còn nếu bạn chủ yếu thực hiện các công việc soạn thảo văn bản thì không cần đầu tư vào chíp loại 100MHz đắt tiền, mà chỉ cần loại 60 hoặc 66MHz.

    CPU là phần tử chính trong bo mạch hệ thống (cũng gọi là bo mạch chính), chứa toàn bộ mạch điện, khe cắm, công tắc và bộ nhớ cần để cho máy tính có thể hoạt động. Ngoài việc chọn CPU thích hợp, bạn cũng nên xem xét lượng bộ nhớ RAM, kích cỡ cache và cấu trúc bus.

    Bo mạch hệ thống IBM PC ban đầu có thể chỉ có 64K RAM, cấu hình thành 4 bank với 9 chip DIP (dual in-line package) riêng rẽ. Các hệ thống hiện nay dựa trên các SIMM (single in-line modun memory); đó là tấm card cắm vào các khe của bo mạch. Các SIMM có hai kiểu: 30-pin và 72-pin (số chân). Mặc dù không có bản nào tốt hơn, điều quan trọng là bạn phải làm sao để kiểu loại và tốc độ của các SIMM phù hợp với các yêu cầu máy PC nếu bạn mua một máy tính theo kiểu từng phần một.

    Bất kỳ một hệ thống mới nào đều có thể chấp nhận lượng bộ nhớ RAM tối thiểu là 32MB. Chẳng hạn, đối với một hệ thống sử dụng loại SIMM 30-pin, 8 khe cắm được sắp xếp thành 2 bank, mỗi bank gồm 4 khe. Tất cả các chip trong cùng một bank phải cùng một kiểu loại, điều này có nghĩa là nếu bạn định nâng cấp thành một PC với 8MB RAM, bạn sẽ có 8 SIMM loại 1MB.

    Nếu túi tiền cho phép, hãy tìm mua loại 16MB (được sắp xếp thành các chip 4MB); nó sẽ cho bạn tốc độ thực hiện tốt hơn và đồng thời dành chỗ để nâng cấp sau này.

    Để tránh việc làm giảm tốc độ bộ xử ly và cải thiện tốc độ thực hiện của toàn hệ thống, một lượng nhỏ bộ nhớ truy cập nhanh - gọi là cache - được thêm vào bo mạch hệ thống. Một vài hãng sản xuất bo mạch hệ thống kiết kiệm tiền cho bạn bằng cách thêm vào một cache chỉ 64K hoặc 128K. Nhưng như vậy là quá nhỏ. Iít nhất cache phải có kích cỡ là 256K.

    Cũng đừng làm rối cache bo mạch hệ thống bằng một cache tự gắn vào CPU. Cả 486 và Pentium đều chứa cache internal (cache bên trong) để tăng tốc các hoạt động riêng bên trong chip. Cache internal không phải là một thay thế cho cache external (cache ngoài) của bo mạch hệ thống.

BUS - kênh trao đổi thông tin

    Một tính năng cơ bản khác cần tính đến khi mua máy PC mới là bus hệ thống của nó. Về bản chất, bus hệ thống cho phép bạn bổ sung âm thanh, fax, hoặc một scanner, chỉ bằng cách mở máy ra và gắn thêm bo mạch mở rộng. Một vài kiểu loại system-bus đang trở nên được ưa chuộng, ba loại quan trọng nhất là VL (VESA local), PCI và ISA.

    Trong số đó, PCI có lẽ là lựa chọn của bạn cho hiện tại và tương lai. Dược thiết kế cho Pentium chip, PCI cũng được tiếp nhận nhanh chóng cho các hệ 486, PowerPC và các hệ khác. Nó đem lại tốc độ thực hiện gần như VL bus - bus này được thiết kế cho các máy 486, nhưng có lẽ PCI sẽ thống trị thị trường, thay thế cả VL và các hệ dựa trên ISA.

    Tuy nhiên, cho tới khi điều này xảy ra, hãy yên chí rằng tất cả các hệ VL và PCI hiện nay trên thị trường đều trợ giúp ISA: đó là điều tốt, vì gần như mỗi một bo mạch bành trướng được bán vẫn tương thích với ISA.

Tóm tắt chỉ dẫn cho người mua

Các tính năng kỹ thuật của hệ thống:

- Tối thiểu 486DX2-66

- Bộ nhớ cache 256K hoặc hơn

- Tối thiểu 4MB RAM, nên là 8MB hoặc hơn

- Tốt hơn nên là PCI bus; VL bus chấp nhận được

CHọN MàN HìNH

    Một trong những thách thức khó khăn mà bạn sẽ phải đối mặt khi mua máy PC mới là chọn màn hình. Để làm chủ một loạt các đặc điểm kỹ thuật, các thuật ngữ thông dụng và toán học cao cấp hơn, bạn sẽ phải ý thức rằng mặc dù một vài máy có bán kèm màn hình nhưng nhiều model của IBM, Compaq và NEC, chẳng hạn, đòi hỏi bạn phải chọn một màn hình riêng. May thay, bạn chỉ cần phải biết 4 đặc điểm kỹ thuật - đó là dot pitch (kích thước của chấm màn hình), độ phân giải, tốc độ phục hồi màn hình và kích cỡ - để xác định bất kỳ một màn hình nào sẽ thực hiện tốt tới mức nào.

Điểm cần chú ý nhất

    Một dot pitch là khoảng cách tối thiểu giữa hai điểm sáng khác nhau tạo ra trên màn hình và được đo bằng milimeter. Dot pitch càng nhỏ thì hình ảnh xuất hiện càng sắc nét - sẽ là lý tưởng đối với các đồ họa phức tạp như các bản vẽ CAD (thiết kế bằng máy tính).

    Đối với phần lớn các ứng dụng, hãy tìm mua một màn hình với dotch pitch tối thiểu là 0,28mm. Bạn có thể tìm thấy màn hình có dot pitch 0,39mm với giá rẻ hơn. Nhưng đừng bị lừa về giá cả - mặc dù lớn hơn chỉ có 0,11mm, nhưng thậm chí text lớn trông cũng rất mờ, cứ như là nó ở sau một miếng giấy sáp.

    Phần lớn các hãng sản xuất màn hình thể hiện "độ phân giải" trong một chú thích ngắn gọn gồm "số-lượng-điểm x số-lượng-dòng" (nghĩa là: số lượng điểm có thể trên một dòng và số lượng dòng trên toàn màn hình). Chẳng hạn, độ phân giải đồ họa VGA là 640x480. Các độ phân giải Super VEGA có thể bao gồm cả 800x800, 1024x768, 1280x1024 và 600x1280.

    Điều quan trọng cần nhớ là "nhuyễn hơn" (như trong loại 1600x1280) không nhất thiết là tốt hơn. Chẳng hạn, phần lớn các màn hình mới đều hỗ trợ độ phân giải 1280x1024 dành cho các ứng dụng định hướng đồ họa và đa phương tiện ngày nay. Điều này nghe có vẻ rất tuyệt, cho tới khi bạn tìm cách đưa một cái gì đó vào Windows và tự thấy mình lác cả mắt trước những chữ li ti trên màn hình rất nhỏ. Không có gì đáng ngạc nhiên cả, kích cỡ màn hình của bạn sẽ xác định bạn có thể sử dụng một cách hiệu quả độ phân giải của bạn ở mức nào. Chẳng hạn, nếu bạn đang xem xét màn hình với độ phân giải là 1024x768, nó có thể nhỏ một cách bất tiện trên màn hình 14-inch với giá tiết kiệm (khoảng 250 USD). Tuy nhiên, cùng độ phân giải như vậy có thể rất thích hợp cho một màn hình 17-inch đắt tiền hơn (khoảng 650 USD). Nếu bạn không thể trả nhiều tiền như thế, màn hình tiện dụng nhỏ nhất cho độ phân giải 1024x768 là màn hình 15-inch (khoảng 325 USD).

    Nhưng dù sao độ phân giải bạn muốn thế nào đi nữa, nguyên tắc cơ bản là: đừng tốn thêm tiền cho độ phân giải bạn sẽ không bao giờ cần đến.

Xét toàn bộ màn hình

    Một khi bạn biết số lượng dot pitch và độ phân giải của một màn hình, câu hỏi tiếp theo là: Tốc độ phục hồi (refresh rate) màn hình ra sao?

    Tốc độ phục hồi màn hình xác định tốc độ máy tái tạo cường độ của các điểm nhanh thế nào khi chúng xuất hiện và mờ đi trên màn hình. Nếu tốc độ phục hồi màn hình đủ nhanh, việc mờ dần của từng điểm rất khó nhận thấy. Nhưng nếu nó không nhanh, khi dòng cuối cùng của hình ảnh hiện trên màn hình, rất dễ nhận thấy là dòng đầu sẽ mờ dần.

    Để đối phó với vấn đề này, một vài hãng sản xuất màn hình sử dụng kỹ thuật thuật được biết đến với tên interlacing (đan). Thay vì vạch mỗi dòng của hình ảnh trong mỗi lần quét dọc (chế độ non-interlaced), màn hình interlaced cách 1 dòng mới vạch, bằng cách lấy hai lần quét để vẽ một hình ảnh đơn. Hai bộ đường kẻ nằm chồng nhau, cứ 2 lần quét tạo ra một hình ảnh.

    Các màn hình interlaced thường rẻ hơn một chút so với màn hình non-interlaced, nhưng độ sáng nhấp nháy của các dòng xen kẽ vẫn gây ra một sự nhấp nháy khó chịu. Không phải mọi người đều nhạy cảm với sự nhấp nháy này, mà cũng không phải nó luôn được nhận thấy, nhưng tốt hơn bạn nên tránh điều đó bằng cách chọn cho mình một màn hình mang lại cho bạn độ phân giải bạn muốn ở tốc độ non-interlaced 60Hz hoặc hơn.

    Giờ đây, tất cả những gì bạn cần làm là chọn một video card kiểm soát được độ sâu màu (color depth) của màn hình (là số lượng màu bạn có thể hiện lên đồng thời). Bảng đi kèm bài này chỉ ra độ sâu màu của màn hình có thể hỗ trợ bởi card 1MB và 2MB video RAM ở 4 độ phân giải thông dụng.

    Điều chú ý quan trọng nhất khi chọn video card là phải chắc chắn rằng nó khớp với các đặc tính kỹ thuật màn hình của bạn. Chẳng hạn, nếu màn hình của bạn hỗ trợ loại 1024x768, bạn sẽ phải chắc chắn rằng video card cũng như vậy, Tránh mua quá mức: trả một khoản tiền cho một card thực hiện cao sẽ là phí phạm nếu màn hình của bạn không thể hỗ trợ các chế độ độ phân giải cao.

Tóm tắt chỉ dẫn cho người mua màn hình:

- 0,28mm dot pitch (hoặc nhỏ hơn)

- 1024x768 hay tốt hơn là độ phân giải non-interlaced

- Tối thiểu màn hình 15-inch phẳng hoặc full-view

- Tối thiểu 1MB video card; 2MB cho độ phân giải cao hơn

CHọN ĐĩA CứNG

    Đĩa cứng trải qua một quãng đường dài. Mặt dù một vài điều đã không đổi hàng năm nay ("lớn hơn" vẫn là tốt hơn) - ngày nay bạn sẽ ngạc nhiên một cách hài lòng khi biết rằng lớn hơn cũng rẻ hơn. Giá thông thường của đĩa là 34 cent/1MB, và giảm xuống hàng ngày.

    Tuy nhiên, có điều đã thay đổi qua mấy năm nay, là chuẩn đĩa cứng. Trong khi một vài chuẩn đã xuất hiện rồi biến mất, ngày nay bạn chỉ cần xem xét 2 họ - IDE và SCSI, khi mua cho một máy mới.

Không còn câm nữa

    Những đĩa cứng trước đây "bị câm". Toàn bộ trí tuệ cần để thao tác chúng nằm ở card điều khiển đĩa. Tất nhiên, kiểu thiết kế này đã làm đĩa cứng rẻ hơn, nhưng cũng tạo ra một vấn đề nghiêm trọng: Nếu card điều khiển không hỗ trợ đĩa cứng của bạn thì bạn không thể sử dụng no.ã Vì các hãng sản xuất đĩa cứng nhanh chóng nhận ra rằng những đĩa cứng không thể sử dụng sẽ không thể bán được, họ đã thiết kế cái gọi là hệ thống IDE (Integrated Drive Electronics), trong đó hầu hết các phần điện tử điều khiển đều được gắn vào chính đĩa cứng. Có một thời, IDE đã được ưa chuộng, tiện dụng khắp mọi nơi. Nhưng vì nó chỉ hỗ trợ cho đĩa với tối đa 504MB, một chuẩn mới là SCSI (Small Computer Systems Interface) đã nhập cuộc cho những đĩa lớn hơn.

    Vì SCSI bus giống như một mạng nhỏ, việc thêm trí tuệ như vậy vào các thiết bị ngoại vi gây tốn kém hơn cho hãng sản xuất. Vì thế, các thiết bị SCSI thường là đắt hơn loại IDE "câm".

    Tuy nhiên, với các phần mở rộng dựa trên ROM được đặt trong các SCSI adapter card, hệ thống DOS có thể vượt qua giới hạn 504MB của IDE và truy nhập các đĩa cứng tới 8GB. Hơn nữa, một SCSI bus có tốc độ truyền dữ liệu từ 5MB đến 40MB 1 giây, trong khi giới hạn trên của tốc độ truyền dữ liệu của IDE là 4MB/giây.

Hãy chờ đã, vẫn còn nữa!

    Vì đòi hỏi về chỗ trên đĩa cứng còn tiếp tục tăng, SCSI đã trở nên giao tiếp được lựa chọn. Tuy nhiên, mới đây, hai phần mở rộng độc lập (và thực tế là giống nhau) do chuẩn IDE đã được thông báo sẽ ra mắt. Một phần mở rộng là AT Attachment 2 (ATA-2) và mở rộng khác là Enhanced IDE (EIDE). Cả hai đều hỗ trợ đĩa IDE tới 8GB, và có tốc độ truyền tới 16MB/1 giây.

    Người sử dụng khả năng của IDE nào muốn tận dụng lợi thế của EIDE sẽ phải mua một bộ điều khiển EIDE-tương thích (thêm 30 đến 50 USD).

    Bạn sẽ có được tốc độ truyền dữ liệu, khả năng truy nhập đĩa EIDE trên 504MB như một khối, và truy nhập đĩa và file 32-bit trong Windows tốt hơn.

    Khi đó câu hỏi thực sự sẽ là: bạn cần có đĩa cứng đến cỡ nào? Để có cái nhìn toàn diện hãy xem dưới đây: Nếu bạn muốn cài đặt bộ Microsoft Office hãy dự kiến tới 110MB. Nếu bạn sử dụng thêm Windows, hãy dự kiến từ 30 đến 50MB dành cho file trao đổi thường trực.

    Và nếu bạn sẽ dùng Windows 95 hay OS/2 trong tương lai, hãy tính đến thêm 50MB. Nên nhớ rằng: không hệ mới nào chấp nhận đĩa cứng nhỏ hơn 400MB.

Tóm tắt chỉ dẫn người mua đĩa cứng

- Hãy lấy kích cỡ ổ đĩa thực để so sánh

- ổ đĩa từ 500 đến 800MB cho giá trị tốt nhất

- ổ đĩa hơn 504MB đòi hỏi một bộ điều khiển đặc biệt

CHọN THIếT Bị NGOạI VI

    Sau khi bạn chọn kiểu loại CPU, đĩa cứng và hệ thống video cho máy PC mới của bạn, có lẽ bạn sẽ cho rằng công việc khó khăn đã qua. Sức mạnh là rất tuyệt, nhưng chính các phần phụ trợ và thiết bị ngoại vi mới làm cho máy tính của bạn trở nên đa năng như mong muốn. Những thiết bị gắn thêm được ưa chuộng và ích lợi nhất là modem, đĩa CD-ROM, card âm thanh, và các băng từ backup. Dưới đây là một vài chỉ dẫn ngắn gọn nên xem xét trước khi bạn phung phí tiền.

Hãy quan sát tốc độ

    Các modem hàng đầu ngày nay tuân theo đặc điểm kỹ thuật V.34, điều này có nghĩa là chúng nhanh hơn trước - có tốc độ truyền không nén tới 28,8 kbps (kilobit/giây) và tốc độ truyền nén tới 115 kbps. Điều đáng chú ý hơn là bạn có thể có được một modem với khả năng fax với giá khoảng 200 USD.

    Bạn có thể tìm mua các lạoi modem rẻ hơn, nhưng chúng thường thiếu mạch điện đặc biệt, cần để đảm bảo sự truyền thông tin cậy. Nếu không vì túi tiền hạn chế, thì không vì lý do gì bạn lại đặt một modem chậm hơn 14,4kbps.

CD-ROM tốc độ kép hay 4?

    Vài năm vừa qua đã chứng kiến một sự giảm từ từ và đều đặn trong giá cả các ổ đĩa CD-ROM, trong khi khả năng thực hiện đã tăng với các model kép, gấp 3, gấp 4 và giờ đây là 6. Khả năng thực hiện tốt hơn cũng đòi hỏi một card điều khiển riêng, gây khó khăn trong cài đặt.

    Tuy nhiên, mới đây, Mitsumi Electronics Corporation tung ra ổ đĩa CD-ROM FX-400 tốc độ 4 với giao điện IDE có giá trị dưới 200 USD. Với một chút cố gắng bạn có thể cài đặt nó trong hệ thống của bạn: nối nó vào cùng dây cáp gắn vào đĩa cứng IDE trong máy, rồi nạp các driver và thế là xong.

    Nhưng trước khi bạn vội vàng đi mua ổ đĩa "mang tính cách mạng" này, bạn sẽ cần một dây cáp nối đôi và một bo mạch IDE dual-channel (khoảng 30 USD). Không có dây cáp và bo mạch thích hợp, bạn không thể sử dụng khả năng truy nhập đĩa 32-bit trong Windows và tạo các kết nối với ổ đĩa CD-ROM trong cùng một hệ thống.

    Dù có nhược điểm đó, một ổ đĩa IDE CD-ROM cho bạn khả năng thực hiện tuyệt vời với giá thấp. Nhưng nếu túi tiền của bạn đặc biệt hẹp, bạn vẫn có thể tham gia vào cuộc cách mạng multimedia bằng cách mua một ổ đĩa tốc độ kép với giá thành 100 USD.

Đầu tư về âm thanh

    Dù bạn quan tâm đến sử dụng tiếng nói hay chuyển tải âm nhạc, việcbổ sung âm thanh vào máy PC có thể là một sự đầu tư lớn - chừng nào bạn biết kiểu loại card âm thanh nào là tốt nhất cho mỗi ứng dụng.

    Nếu bạn có ý định chỉ làm việc với tiếng nói và bạn đang muốn chấp nhận chất lượng giới hạn, một card 8-bit giá tương đối rẻ với tốc độ 11KHz sẽ là thích hợp. Nhưng nếu bạn muốn thưởng thức phần mềm multimedia hay muốn tái tạo audio chất lượng CD từ các file WAV và MIDI, card của bạn phải là 16-bit với tốc độ 44KHz.

    Một lợi điểm khác là card 16-bit cũng có thể mã số hóa và tái tạo âm thanh 8-bit, như thế nó là hoàn hảo cho cả tiếng nói lẫn âm nhạc.

    Card âm thanh 16-bit giá rẻ hiện nay (khoảng dưới 100 USD, kể cả loa) có thể tái tạo âm thanh của các nhạc cụ khác nhau bằng công nghệ có tên là FM Synthsis. Nhưng xu hướng được ưa chuộng nhất trong âm nhạc PC là card âm thanh 32-bit wave-table, card này chứa các mẫu digital của các nhạc cụ hiện thời chứa trong ROM. Rõ ràng là chất lượng đã tăng lên, vấn đề chỉ còn là bạn sẽ quyết định liệu có đáng tiêu thêm 200 hay 250 USD hay không.

Sao chép dự phòng

    Dù bạn mua từng phần hay nguyên cụm, máy PC mới của bạn có lẽ sẽ được cài DOS 6.0 hay 6.2, Windows 3.1 hay Windows for Groups, và rất nhiều chương trình tiện ích trên đĩa cứng. Để tiết kiệm tiền, nhiều hãng bán máy không còn bán kèm các đĩa sao cho mỗi chương trình, như thế công việc đầu tiên bạn sẽ phải làm là sao lưu hệ thống.

    Tuy nhiên, vì đĩa cứng và các ứng dụng ngày càng lớn hơn, việc sao lưu bằng đĩa mềm không còn tiện lợi nữa. Thay vì thế hãy xem xét ổ đĩa băng từ (khoảng 150 USD). Ôổ này sử dụng các cartridge nhỏ và chứa được 120MB. Với chế độ nén, một ổ băng từ có thể thường nén được 250MB các file trên một băng. Việc cài đặt là rất nhanh vì ổ băng gắn vào bộ điều khiển đĩa mềm hiện thời của bạn.

Bàn phím và chuột

    Vì bạn hoặc sẽ phải sẽ phải sử dụng nhiều thời gian để gõ vào bàn phím hoặc là dùng chuột nếu bạn chạy các chương trình Windows, nên không được đánh giá thấp giá trị của một bàn phím và chuột chất lượng.

    Tuy nhiên, phần lớn các hệ thống máy tính để bàn đều được đi kèm những bàn phím rẻ tiền, với các phím dính chặt có thể làm cho người đánh khó chịu trong nhiều giờ. IBM từ lâu đã nổi tiếng với các bàn phím tốt nhất trong kinh doanh, và đúng là đáng được khen như thế. Focus và Northgate cũng làm những bàn phím chất lượng như vậy.

    ảnh hưởng của chuột chất lượng quá kém thể hiện âm ỉ hơn. Chuột có thể rất linh hoạt nhưng không giống như một bàn tay người. Các góc thì nhọn, và làm khó chịu. Việc nhấn các phím rất bất tiện.

    Như vậy, sự tiện lợi thoải mái là yếu tố đầu tiên khi chọn chuột. Chuột của Microsoft (khoảng 60 USD) thường được khoe là chất lượng, và các loại ít nổi tiếng hơn nhưng chấp nhận được có thể mua từ các các hãng sản xuất khác với giá dưới 20 USD. Khôn ngoan nhất là gắn với một thiết bị tương thích Microsoft để dễ cài đặt nhất và tương thích với phần lớn các ứng dụng.

Tóm tắt chỉ dẫn cho người mua thiết bị ngoại vi:

- Modem : V.34 28,8 kbps với fax

- Ôổ đĩa CD-ROM: tốc độ 4, IDE

- Card âm thanh: tổng hợp FM, 16-bit

- ổ băng backup: 250MB

- Bàn phím: 101 phím, IBM

- Chuột: tương thích Microsoft, serial.

Thanh Hòa  DOS World 7/1995


PcLeHoan 1996 - 2002
Mirror : http://www.pclehoan.com
Mirror : http://www.lehoanpc.net

Mirror : http://www.ktlehoan.com