PC Word 8/97
Photopshop (PHS) là một phần mềm ứng dụng nhưng rất nặng về tiện ích, chắc vì đây là Cửa hàng -ảnh nên mọi chuyện đều phải dựa trên một ảnh nào đó để xử lý. Nếu bạn là hoạ sĩ thuộc trường phái Tân ấn tượng hay Trừu tượng thì PHS với những hiệu quả độc đáo sẽ là một phương tiện tuyệt hảo để làm phác thảo (esquisse) - những lệnh của PHS có tính áp đặt và kết quả sẽ thay đổi tuỳ thuộc vào những thông số rất tinh tế. Nhưng không sao, rồi bạn sẽ thấy... không có gì ầm ĩ cả.
Với bài viết , tôi chỉ mong giúp thêm bạn một vài phương tiện để cuộc đi "loanh quanh" trong "cửa hàng" này bớt phần mệt mỏi.
Cài đặt
Tất nhiên PHS sẽ chạy nếu bạn cài đặt như cách bạn thường làm với các phần mềm khác, nhưng sẽ thiếu khá nhiều lệnh về hiệu ứng (effects) của Menu FILTER, nó chuyên cung cấp "đồ gia vị" cho việc xử lý ảnh. Tôi giới thiệu với bạn version 4.0, chạy tốt trong Windows 95, nhưng hơi chậm với Windows 3.x. Nếu "lỡ" đã có sẵn PHS (bất kể version nào) trong máy, bạn vẫn có thể cài bổ sung để có đủ các lệnh về hiệu ứng như PHS trong Macintosh.
Điều cần lưu ý:
Dung lượng ổ cứng của máy bạn phải khá lớn, bộ nhớ truy cập ngẫu nhiên khoảng 16 MB RAM và rất cần ổ CD. Nếu cài đặt PHS bằng đĩa mềm bỏ vào rồi lấy ra từng đĩa một (22 đĩa), tưởng tượng chỉ một sector trên đĩa mềm nào đó bị hư là công trình cài đặt của bạn sẽ tiêu tùng, mà điều này lại thường xảy ra do chất lượng đĩa mềm không bảo đảm. Chưa hết,lúc cài PHS còn bắt sao chép file (tổng cộng trước sau khoảng 100 đĩa 1.4Mb), chắc phải mấy cả ngày trời, trong khi với ổ CD bạn chỉ tốn khoảng nửa giờ mà còn rất an toàn. Nên có được Pentium 133-166MHz, 1,2 GB HD, 16MB RAM, có ổ CD gắn trong máy.
Xin gợi ý trình tự cài đặt: PHS đòi hỏi số series (có hai cách tìm số này: Trong Windows, sử dụng NotePad của Accesories mở PHS, mở Serial Number; trong NC, cũng vào thư mục PHS, chọn Serial Number nhấn F3 sẽ có số series cho bạn). Sau khi PHS thông báo đã cài đặt xong, khởi động lại Windows, vào PHS, nếu máy báo thiếu RAM không chạy được, bạn tăng thêm vùng nhớ ảo cho PHS.
Giả sử PHS đã chạy, mở Menu Filter kiểm tra, nếu còn thiếu lệnh Alien Skin (chứa Drop Shadow đổ bóng mờ) và KPT 3.0 (chứa PageCurl - cuốn mép trang), những hiệu ứng đang nằm trong "Top ten" về trình bày bìa sách và các trang, ảnh quảng cáo, bạn chép phần Plug-Ins. PHS (chọn tất cả 216 đối tượng). Nhớ phải vào đúng thư mục EFFECTS/PLUGINS của PHS vừa cài (nên theo đúng đường dẫn sau :...: \ADOBE\PHOTOSHOP\PLUGINS\EFFECTS). Vào lại PHS kiểm tra Menu Filter, sẽ có thêm khá nhiều lệnh nhưng vẫn chưa có Alien Skin, phải cài thêm Blackbox.2a, nhớ chọn 32 bit. Khi phần mềm cài đặt hỏi đường dẫn bạn theo đúng như trên nhưng lần này phải vào hẳn effects mở một đối tượng nào đó rồi bắt đầu cài.
Lúc cài đặt KPT 3.0, bạn cứ lấy số series của PHS và cài đầy đủ KPT -conv , Funhouse. Khi nào phần mềm cài đặt đưa ra bảng đối thoại hỏi bạn về đăng ký (Register), hãy nhấn Cancel để chấm dứt cài đặt. Sau mỗi lần Setup hay sao chép nên chịu khó khởi động lại (và vào PHS kiểm tra Menu Filter, nếu không có thêm lệnh mới hay PHS không chịu thi hành lệnh tức là bạn đã đặt sai đường dẫn, phải tìm phần đó xoá đi. Xin nói thêm, những phần cài đặt bổ sung này đều nằm trong đĩa CD Photoshop Master. Ngoài ra, PHS ver 3.x không có thư mục effects, chỉ cần đến Plugins là được,thao tác tương tự như version 4.0, nhớ phải luôn chọn 32 bit.
Chạy Photoshop
Trước khi đề cập đến các thao tác, xin giới thiệu cửa sổ, màn hình (chứa các cửa sổ, palette) và màu nền của cửa sổ. Cũng như các phần mềm khác, bạn có quyền mở một lúc rất nhiều cửa sổ, cái giá phải trả là máy của bạn trở nên ì ạch vì phải mang vác nặng.
Mỗi lần bạn chỉ thao tác được trên một cửa sổ gọi là cửa sổ hiện hành (current), thực hiện bằng cách nhắp chuột lên một vị trí bất kỳ của cửa sổ đó. Khi mở , PHS bao giờ cũng chỉ cho cửa sổ xuất hiện chiếm một phần của màn hình, vừa vặn chứa ảnh mới mở hay phần vừa mới sao, do đó rất khó tìm sự tương ứng về kích thước .
Bạn nên luôn cho xuất hiện Rulers/Menu VIEW (muốn đo chính xác kích thước của đối tượng : đưa con trỏ vào ô giao nhau của hai cây thước, nhấn và kéo đến nơi cần đo. Đổi đơn vị ở Preferences/FILE phần Units&Rulers).
Bạn có thể di chuyển các đối tượng từ cửa sổ này qua cửa sổ khác nhờ chọn dụng cụ Move trong Tool box đưa con trỏ vào đối tượng (là vùng chọn, text, ảnh), nhấn và giữ phím trái chuột kéo từ từ qua cửa sổ khác. Lúc này ở đuôi mũi tên xuất hiện hình chữ nhật mờ có kèm dấu cộng - lệnh Move của bạn đang được thi hành. Di chuyển đến nơi bạn muốn rồi thả phím chuột, bây giờ cửa sổ này trở thành Current.
Với ver 3.x đối tượng mới vẫn còn "trôi nổi " (float), đây cũng là
một lệnh, nếu bạn muốn một vùng nào trong ảnh nổi lên, khoanh chọn vùng đó,
vào Menu Select chọn Float, di chuyển vùng này qua vùng khác, màu phía dưới
vùng đó không bị mất. Nếu muốn di chuyển tiếp, bạn nhấn Ctrl+J (phím nóng
của lệnh Float) và cứ thế tiếp tục... (đây là lệnh thường được sử dụng
trong kỹ thuật xử lý sửa chữa, "vá" những vùng hư trong ảnh cũ).
Đối tượng sau cùng vẫn ở trạng thái trôi nổi cho đến khi bạn ra một lệnh
khác, nó mới gắn chặt xuống ảnh.
Ver 4.0 được cải tiến hơn, không còn lệnh Float nhưng bù lại , bất cứ một
đối tượng nào xuất hiện sẽ được PHS tự động tạo ra mọt layer (lớp) mới
để chứa đối tượng đó (nếu bạn dùng lệnh Marquee hay Magic Wand Tool để
chọn vùng hay các dụng cụ khác để vẽ, PHS sẽ hiểu bạn đang xử lý trên file
- ảnh và kết quả sẽ tác động đến file - ảnh). Trong một cửa sổ, có thể có
vô số layer, các layer này độc lập với nhau (nếu bạn lưu ở tình trạng này,
khi mở layer vẫn giữ nguyên cho đến khi bạn hoà lẫn (Flatten Image) chúng với
nhau. Khác với Corel Draw, PHS chỉ có layer, và lớp nào xuất hiện trước sẽ
được gần ảnh chính (PHS gọi là Background). Các layer sẽ có số thứ tự nhỏ
đến lớn, layer tạo sau sẽ có số thứ tự lớn và xuất hiện trên cùng. Chuyển
đổi trên dưới các lớp rất dễ: đưa con trỏ đến layer nào đó trong Palette
di động chứa layer (kích hoạt trong Menu Windows )- con trỏ biến thành hình bàn
tay - đẩy lên hay kéo xuống đến vị trí mong muốn, lớp này sẽ chèn vào đó;
hoặc vào lệnh Arrange/LAYER chuyển đổi các lớp lên , xuống (tương tự như
lệnh ORDER của Corel Draw). Có thể trộn lớp trên với lớp dưới (Merge Down) hay
ngược lại (Merge Visible) hoặc hoà trộn các lớp lại với nhau (Flatten Image),
các lệnh này trong Menu Layer. Muốn bỏ lớp: chọn lớp rồi nhắp vào thùng rác
trong Palette di động đang biểu thị các lớp.
Lưu ý, với ảnh đưa vào đầu tiên (mở từ đâu đó ) PHS quy định luôn luôn là Background, những đối tượng tạo ra sau dù là sao từ ảnh chính, khi dán (paste) lại cũng thuộc lớp mới. Điều này giải thích trường hợp khi muốn sao file -ảnh mang đi chỗ khác (cửa sổ mới hay phần mềm khác), nhưng khi paste chỉ thấy đối tượng của lớp vừa làm việc hiện ra (nên luôn cho xuất hiện và quan sát Palette Layer khi làm việc với PHS) dù đã cẩn thận ra lệnh Select All (Ctrl+A). Tốt nhất là vào Menu Image chọn lệnh Duplicate (sao y cửa sổ hiện hành): từ cửa sổ vừa mới sao, ra lệnh Flatten Image, tất cả các layer sẽ hoà trộn làm một- điều này rất có lợi, kích thước của file ảnh co lại chỉ còn một phần ba, một phần tư, là số size của Doc (tử số đọc ở thanh trạng thái, phía dưới góc trái màn hình ) - sao chép và dán (nếu máy yếu, sau khi dán xong hãy sao chép một đối tượng đơn giản nào đó để giải phóng cho vùng nhớ của Clipboard).
Muốn tăng kích thước ảnh : vào lệnh Image Size/IMAGE, kích thước càng lớn file - ảnh càng lớn nhưng hình in ra sẽ không rõ bằng ảnh ở kích cỡ thật và tương tự, bạn có thể thu nhỏ kích thước ảnh để lưu vào đĩa mềm cho tiện đem đi.
PHS quan niệm có ba loại màu nền trong cửa sổ:
Màu-mặt-tiền (Foreground color) :tất cả các đối tượng , text bạn tạo ra đều mang màu của nó, ngầm định là màu đen. Tuy nhiên, bạn có thể chọn lại màu bằng nhiều cách: nhắp chuột vào hình vuông bên trái trong Tool Box, PHS xuất hiện bằng bảng đối thoại Color Piker, chọn thang màu trong hình chữ nhật đứng giữa rồi nhắp chọn màu ở vùng nào đó trong ô vuông lớn bên trái. OK. Muốn nhanh hơn, bạn đưa con trỏ chuột vào Palette Color nhắp chọn trong giải màu phía dưới của hộp này. Hoặc dùng dụng cụ Eyedropper đưa vào Palette Swatches, chọn màu.
Nếu muốn chuyển đổi hình ảnh đen trắng qua màu: dùng scanner quét ảnh ở chế độ màu, tiếp theo hay cùng lúc quét một ảnh khác có màu đúng ý mình, cho xuất hiện trong cùng cửa sổ, dùng Magic Wand chọn vùng nào đó trong ảnh đen trắng, PHS sẽ tự động tìm ra những vùng ảnh có màu tương đương, sau đó dùng Eyedropper chọn vùng màu trong ảnh màu (có thể chọn màu một cửa sổ khác), đây sẽ là màu -mặt - tiền, dùng thùng sơn (Paint Bucket Tool hay bình xịt airbrush xịt lên vùng vừa chọn, cứ thế tiếp tục qua những vùng khác.
Màu -mặt-hậu: Đang dùng Eyedropper để chọn màu nếu bạn nhấn và giữ phím Alt, PHS sẽ hiểu bạn muốn chọn màu-mặt-hậu (Background color). Những lệnh cho màu-mặt-tiền đều sử dụng được cho màu-mặt-hậu (màu sắc file -ảnh không phụ thuộc màu của cửa sổ). PHS ngầm định màu-mặt-tiền là màu đen, màu-mặt-hậu là màu trắng, muốn đảo ngược: nhắp chọn mũi tên tròn hai đầu hoặc sau khi đã chọn các màu khác bạn nhắp chọn hai ô vuông đen trắng chồng lên nhau.
Nền Trong (Transparent): Gíup cho kích thước file nhỏ hơn nhiều . Nhờ đặc tính màu nền trong, khi bạn chép ảnh này qua cửa sổ khác, với những ô trống vừa tạo kết hợp với file ảnh mới sẽ tạo ra những hiệu quả rất đẹp. Muốn thay đổi , quay đối tượng , vào lệnh Transform /LAYER.
Một vài thao tác và kỹ thuật xử lý ảnh
PHS cũng như các phần mềm khác thường chỉ thi hành lệnh khi bạn đã chỉ định vùng. Vùng chọn sẽ được bao bọc bởi đường đứt khúc di chuyển như đàn kiến. Muốn bỏ chọn: nhắp chọn None/SELECT (Ctrl+D); chọn vùng ngược lại: lệnh Inverse/SELECT (Ctrl+Shift+I). Chọn thêm: nhấn và giữ thêm phím Shift. Bớt chọn một vùng đã chọn: nhấn và giữ thêm phím Atl.
Các dụng cụ gồm: Marquee, Lasso (hình vòng dây thòng lọng) và Magic Wand Tool (hình chiếc đũa thần) nằm ở phần trên của Tool Box. Khi xử lý ảnh, những lệnh này sẽ gíup bạn tối đa: xoá, đổi màu phông (phần nền ảnh).
Trước đây, khi trình bày lịch ghép ảnh chân dung hay toàn thân các "ngôi sao" vào một hậu cảnh thường phải dùng kéo cắt thật kỹ từng phần nhỏ. Nhưng khi gặp phải sợi-tóc-đi-hoang cần phải giữ lại để tăng phần tự nhiên và lả lướt thì đúng là tai hoạ, phải lấy kim gút châm thủng từng chút một. Riêng chuyện điều chỉnh "tông" màu cho "ắc-co" thì đành chịu. Với PHS, vấn đề này chỉ là chuyện nhỏ: dùng Smudge Tool (hình ngón tay) làm mềm những đường cắt sắc cạnh (nếu di-nhấn và giữ nút trái chuột - bắt đầu ở vùng nào sẽ kéo màu của vùng ấy đi), nếu muốn kéo màu ra ngoài một vùng vừa dán phải huỷ chọn lệnh Preserve Transparency. Dùng Dodge Tool (hình cục bông gòn đen) làm sáng hơn vùng nào đó; dùng Burn Tool (hình bàn tay nắm làm tối lại; và dùng Sponge Tool (hình miếng bọt biển ) làm rực sáng lên một cạnh hay một vùng, bạn nhớ phải quy định độ rộng hẹp của đường nét ở Palette Brushes. Ví dụ bạn muốn chọn vùng ảnh phía sau một khuôn mặt, dùng Lasso vẽ đường bao quanh khuôn mặt đó (nhấn và giữ nút trái chuột khi đang tiến hành vẽ, PHS sẽ tự động nối điểm đầu với điểm cuối của đường bạn vừa vẽ vì thế để tránh nạn đường nối cắt ngang vùng không muốn chọn, nên cố gắng chấm dứt lượt vẽ ở gần điểm khởi đầu) cứ vẽ thoải mái nếu bị phạm qua vùng khác, nhấn và giữ phím Alt (để bớt chọn, đuôi trỏ chuột có thêm dấu - ) bắt đầu từ vùng không muốn chọn, vẽ cắt ngang qua vùng bị lấn, PHS sẽ "thụt lùi" vùng chọn; Hoặc ngược lại, nhấn và giữ phím Shift (để chọn thêm, đuôi trỏ chuột có thêm dấu +).
Khi muốn sử dụng lệnh Opacity/Layer Option/LAYER (biến file -ảnh thành tấm kính, trị số càng nhỏ càng trong suốt, ngầm định là 100) và có giá trị toàn layer, vì vậy bạn phải cắt phần muốn giữ nguyên Opacity sau đó mới dán lại (chỉ tiếc một điều, PHS luôn luôn dán đối tượng tại trung tâm cửa sổ nên bạn phải dùng Move Tool để di chuyển đối tượng về chỗ cũ).
Bạn có thể mở rộng khuôn hình (Canvas) lớn hơn ảnh (file- ảnh): lệnh Canvas Size/IMAGE, ngầm định bung ra mọi hướng, nhưng bạn vẫn khống chế được bằng cách nhắp chuột vào một trong các ô vuông trong Anchor.
Về đường viền (Outline): có hai loại, nếu muốn bao ngoài đối tượng hay text dùng lệnh Stroke/EDIT (nếu không thấy PHS thi hành, bạn xem lại Palette Layer nếu lệnh Preserve Transparency đang có hiệu lực thì huỷ chọn); còn lệnh Border /Modify /SELECT đường viền sẽ lấn vào một nửa, sau đó bạn phải nhuộm màu (màu đường viền sẽ là màu của màu-mặt-tiền).
Tới đây, bạn đang ở khu vực quan trọng của PHS, vùng tạo hiệu quả đặc biệt (Special effects): MENU FILTER. Như đã trình bày, PHS nghiêng nặng về tiện ích (nếu cài tương đối đủ sẽ có khoảng hơn năm trăm lệnh), và những tên lệnh thường hình tượng hoá kết quả lệnh đó. Chính vì vậy, khi làm việc với PHS, nếu "yếu "Anh ngữ, nên có sẵn cuốn từ điển Anh -Việt nhỏ loại bỏ túi. Mặt khác, luôn ghi lại trong sổ tay những thông số bạn đã thay đổi để so sánh với kết quả PHS thực hiện. Chẳng hạn dùng lệnh Nose sẽ làm những hạt Tramée lớn hơn dùng riêng cho các film áo thun (in lụa).
Nếu xử lý một ảnh từ scanner đưa vào, chắc chắn bạn phải dùng lệnh Sharpen (làm cho bén, sắc nét). Với lệnh Aristic, file -ảnh của bạn sẽ thành tranh của các danh hoạ: Mastique (lệnh Cutout), Paul Gaugin (lệnh Dry Brush, tăng Texture trị 3), Renoir (lệnh Fresco).... Muốn ảnh trở nên mờ ảo: dùng lệnh Blur hoặc Gausian, ảnh có vùng ngoài quay, dùng lệnh Radial Blur (thay đổi tâm ở Blur center).
Vào Funhouse nếu muốn những hiệu quả bất ngờ. Bạn còn có các Công ty triển lãm tranh: Factory Gallery A,B,C,D: tạo những khoảng nắng (lệnh Pool Shadow). Nhớ sao chép thêm một ảnh chồng đúng ngay trên ảnh cũ và sẽ xử lý ảnh mới này vì lệnh làm mất phần còn lại của ảnh; xoáy vòng hình (lệnh Seismic); thêm hình phản chiếu (lệnh Mirror) có thể xê dịch các phần bằng cách thêm bớt các trị số của Quadrant. Biến ảnh thành phù điêu (Bas Relief): lệnh Emboss.
Bạn muốn chuyển màu đen thành trắng hay biến đổi qua lại các màu tương đối, vào Adjustment Layer/LAYER chọn Curves ở ô TYPE, PHS xuất hiện bảng đối thoại, quay ngược đường chéo (đưa trỏ chuột vào góc đường chéo nhấn và đẩy theo ý), hoặc đưa trỏ chuột vào (chọn hình cây viết hay đường cong) ô vuông theo sự thay đổi vị trí và hình dạng đường biểu diễn, PHS sẽ tạo màu tương ứng .
Nên dùng PHS để quét ảnh (lệnh Import/ file có điều lợi là sẽ quay ảnh được dễ dàng (Corel PHOTO-PAINT cũng quét ảnh được nhưng hình khi quay sẽ bị nhoè): dùng lệnh Rotate/Transform/LAYER, sau khi xử lý xong bạn phải chọn một công cụ khác, PHS đưa một bảng đối thoại, nhắp chọn Apply nếu muốn PHS thi hành. Các file - ảnh có phần mở rộng. bmp, PHS chỉ cho gọi ra nhưng không cho xử lý, nếu muốn, bạn phải sao chép toàn file -ảnh, tạo FILE New rồi đánh lại, sau khi xử lý lưu lại với phần đuôi của PHS (.psd).
Phần quan trọng nhất của Menu Filter vẫn là Alien Skin: lệnh Drop Shadow 2.0 (đổ bóng), có hai cách: tạo một tập tin mới có màu màn hình transparent hay nhanh hơn, xử lý ngay trên file - ảnh hiện hành, bạn nhớ huỷ chọn Preserver Transparency (trong Palette Layer), nếu quên PHS vẫn ra thông báo nhắc bạn huỷ chọn "...turn OFF the "Preserve Transparency". Bạn còn có lệnh toả hào quang bao quanh vùng chọn hoặc text (lệnh Grow). ở trong bảng đối thoại của lệnh : đưa trỏ chuột vào ô vuông Preview , nó sẽ biến thành hình bàn tay nhấn và giữ rồi di chuyển cho đến khi thấy đối tượng .
ở KPT3.0 bạn có lệnh Page Curl (cuốn mép trang): ngầm định cuốn luôn cả cạnh nhưng bạn vẫn có thể cuốn từng phần cạnh thậm chí chỉ một phần trong file - ảnh nếu đã dùng Marquee Tool chọn trước: trong hộp đối thoại, thích cuốn hướng nào, độ cuốn nhiều hay ít, đưa con trỏ đến các mũi tên (đang còn mở) trên khung lớn mũi tên sẽ rõ lên, bạn đẩy lên hay kéo xuống để có độ cuốn nhiều hay ít, ba hình chữ nhật bên trái xác định màu của phần cuốn hay phần trang còn lại (nếu cho thi hành chọn bóng đèn màu lục - OK , huỷ chọn bóng đèn màu đỏ - Cancel. Bạn muốn file - ảnh như được chụp qua mặt nước (lệnh kpt Interform 3.0 - nhớ huỷ chọn Preserve Transparency).
Có một điều cần nói thêm: Với những máy "bậc trung", khi xuất ra máy in bằng PHS bạn phải chấp nhận một điều là nếu ảnh đẹp thì text sẽ không sắc nén ( nhất là những chữ có cỡ nhỏ). Ngoài ra PHS không có chế độ Print preview nên hơi khó canh, ngầm định in chính giữa trang, nếu muốn in lệch phải mở Canvas Size/IMAGE lớn hơn rồi kéo file -ảnh (nên ra lệnh duplicate rồi Flatten Image để in nhanh và dễ chỉnh sửa về sau).
Cõ lẽ phải nhờ đến CorelDraw: tuy ảnh in ra có xấu hơn một chút nhưng đảm bảo sẽ đúng vị trí và kích thước, các chữ nhỏ sẽ rất bén và in tách màu được. Cách làm: tạo text nhỏ trong CorelDraw rồi chụp thành hai bản film quang cơ (một Nég, một Pos), nhờ nhà in đốt film riêng phần chữ (cách này giúp giữ nguyên bộ film ảnh, rất "tiết kiệm " để dành in được film trong (vào Print/Options/ Separation chọn Separation) hoặc xử lý ảnh để đưa tới nhà in tách màu ra film, phải đổi Mode/IMAGE ra loại CMYK (ngầm định của PHS là RGB).
PcLeHoan
1996 - 2002
Mirror :
http://www.pclehoan.com
Mirror :
http://www.lehoanpc.net
Mirror :
http://www.ktlehoan.com