Bốn năm nối kết Internet: Vẫn còn “ngăn sông cấm chợ ”
Bao Nguoi Lao Dong
Năm 1997, VN chính thức kết nối Internet. Sau 4 năm, lượng thuê bao gián tiếp đều tăng 100%/năm. Theo thống kê mới nhất của Công ty Điện toán và Truyền số liệu VDC, toàn quốc có 205.000 thuê bao của 4 nhà cung cấp. Nhưng mức độ phổ cập Internet tính trên tổng dân số VN lại quá thấp, chỉ là 0,25%. Song điều quan trọng lại là ở chỗ giá sử dụng tại VN quá cao, chất lượng dịch vụ nghèo nàn, lạc hậu và cả sự “ngăn sông cấm chợ” khi mà trên 50.000 cổng có thể để kết giao VN chỉ mở ba cổng để duyệt web, nhận, gửi e-mail, truyền file.
NHẬN ĐỊNH: Internet phát triển chậm ở VN một phần là do mức độ phổ cập máy tính, phổ cập điện thoại còn hạn chế. Dân trí về công nghệ thông tin còn giới hạn. Nội dung thông tin chữ Việt trên Internet còn nghèo nàn, chưa tạo sức hút. Nhưng nguyên nhân chính cản trở sự phát triển của Internet tại nước ta chính là giá cước và chất lượng dịch vụ.
Tỉ lệ phổ cập Internet VN hiện nay thấp hơn khu vực có mức độ phổ biến Internet thấp nhất thế giới là châu Phi với 0,6%. Như vậy, nếu châu Phi thuộc diện “nghèo đói” Internet thì VN còn dưới cả mức “nghèo đói” Internet. Chúng ta cũng cần lưu ý rằng, kể từ năm 2001, Chương trình Phát triển của Liên Hiệp Quốc (UNDP) đã lấy mức độ phổ cập Internet và công nghệ thông tin như một tiêu chí đánh giá sự phát triển của một quốc gia.
Giá cước cao nhất thế giới.- Có thể đây là một trong những nguyên nhân đã làm kìm hãm sự phát triển của Internet trong thời gian qua. Nhưng cũng phải thừa nhận một thực tế: Đối với dịch vụ truy cập Internet gián tiếp qua mạng điện thoại, đã có một bước tiến đáng kể về giảm giá cước (từ 400 đồng năm 1997 xuống còn 250 đồng kể từ 1-7-2001) tạo ra sự đột biến về người sử dụng và kết quả kinh doanh của các nhà cung cấp dịch vụ.
Song ngay cả với chi phí truy cập Internet được xem là chấp nhận được cũng đã xấp xỉ 1 USD/giờ truy cập. Đây là một trong những mức giá cao nhất trên thế giới. Con số này cao gấp hai lần so với các quốc gia trong khu vực và hàng chục lần so với cước phí truy cập đi Mỹ.
Thống kê cho thấy, trung bình một người sử dụng 40 tiếng đồng hồ truy cập Internet. Với cước phí hiện nay (1 USD/giờ) người dùng VN sẽ phải chi trả 40 USD. Trong khi các nước trong khu vực bình quân chi phí kết nối Internet là 20 USD/tháng với thời gian truy cập không hạn định.
Tất nhiên phải nói thêm rằng, cước phí truy cập gián tiếp như vậy cũng được xem là đã có biến chuyển tích cực, trong khi cước phí truy cập Internet trực tiếp sử dụng các kênh thuê bao riêng như 64 KB chẳng hạn thực sự ở mức hàng đầu thế giới về đắt đỏ. Ngay như quốc gia láng giềng là Thái Lan, giá cước đường 64 KB rẻ hơn ba lần so với nước ta mặc dù sự tự do hóa cạnh tranh ở Thái Lan cũng đang trong quá trình khởi động. Còn Singapore là quốc gia có thu nhập bình quân đầu người gấp VN 50 lần nhưng cước thuê tháng rẻ hơn VN 13 lần với đường truyền tốc độ cao gấp 8 lần là 512 Kbit/giây. Sự chênh lệch càng lớn hơn nếu so sánh với Mỹ. Khi người sử dụng thuê đường truyền tốc độ dao động từ 600 Kbit đến 4 megabit/giây thì rẻ hơn 18,2 lần khi so với đường 64 Kb/giây của VN.
Từ tháng 7-2001, Tổng cục Bưu điện có thêm hình thức thuê đường truyền riêng và dùng bao nhiêu trả bấy nhiêu nhưng phải trả cước cố định là 400 USD/tháng. Và cứ 1 megabyte dữ liệu phải trả 400 đồng. Tưởng là rẻ hơn nhưng cũng đáng là bao và quan trọng là hình thức này chỉ phù hợp với các doanh nghiệp có nhu cầu ít về đường truyền dữ liệu.
Chất lượng dịch vụ: thấp và tắc.- Internet dẫu sao cũng chỉ được tạo dựng trên cơ sở hạ tầng viễn thông. Nhưng tại sao với một hạ tầng viễn thông sử dụng công nghệ số thuộc loại hiện đại nhất trên thế giới như của VN lại đẻ ra đứa con là hạ tầng Internet kém cỏi đến như vậy? Cũng nên lưu ý rằng việc chuyển thẳng từ kỹ thuật tương tự analog sang kỹ thuật số vốn là một niềm tự hào của ngành viễn thông VN! Mạng trục Internet VN chỉ có hai cửa kết nối quốc tế, một ở Hà Nội, một TPHCM. Nhiều chuyên gia cho rằng hai cổng này như nút cổ chai, mọi sự nâng cấp công nghệ đều vô nghĩa ngay cả với Internet băng thông rộng mà VDC đang thử nghiệm.
Và kết quả là mặc dù dung lượng cổng kết nối Internet quốc tế liên tục được mở rộng từ 10 megabit tháng 9-2000 lên 24 megabit tháng 12- 2000 và nay là 42 megabit nhưng tắc vẫn hoàn tắc. Kể cả việc kết nối trực tiếp qua kênh thuê riêng.
Từ những thực tế trên, nếu không xóa bỏ độc quyền và mở rộng tự do cạnh tranh, các doanh nghiệp viễn thông và Internet VN dù lớn đến đâu cũng khó tránh thất bại. VN sẽ bị tụt hậu với sự phát triển của thế giới. Internet, viễn thông không còn là chuyện kinh doanh riêng của một ngành mà đã là chuyện tồn vong của một quốc gia.
Internet
có còn là Internet?
Internet
có thể triển khai hàng ngàn, hàng chục ngàn ứng dụng
khác nhau. Và đó cũng chính là sức mạnh, giá trị của
mạng thông tin toàn cầu. Mỗi một ứng dụng cần có một hay
vài cổng kỹ thuật còn gọi là port. Nhưng trong số trên
50.000 cổng đó, Internet VN chỉ mở có cổng kết nối
Internet theo giao thức TCP là cổng thứ 80, sử dụng để
duyệt web, cổng 110 và SMTP 25 dùng
để nhận và gởi mail, cổng 21 dùng để truyền file, còn
lại tất cả các cổng dịch vụ khác đều bị đóng lại.
Việc
đóng các cổng dịch vụ Internet sẽ ngăn
cách các phần mềm Internet hoạt động đúng chức năng như
thiết kế phần mềm sử dụng trong giới kinh doanh như
Lotus Notes hay Real Player nhưng lại không thể sử dụng
trên mạng của VN.
Internet
là một công cụ rất quan trọng để phát triển phần mềm
hướng xuất khẩu. Vậy mà các chương trình truyền thông
thông dụng và cần thiết như AOL, AIM, ICQ, Netmeet đều
bị bức tường lửa chặn lại, không dùng được. Đây là bất
lợi lớn khi các đối tác so sánh các ưu thế cạnh tranh
với các quốc gia trong khu vực.
Việc
đóng hầu hết các cổng dịch vụ xuất phát từ chính sách
quản lý Internet theo Nghị định 21 của Chính phủ ban
hành ngày 5-3-97. Theo đó, việc mở cổng Internet tùy
thuộc vào năng lực quản lý của chúng
ta.
Với
sự ra đời của Nghị định 55 ban hành ngày 23-8-2001, mọi
việc đã thay đổi theo hướng cởi trói cho Internet VN.
Điều này đòi hỏi năng lực quản lý phải theo kịp nhu cầu
phát triển và phát triển Internet với đầy đủ dịch vụ
chất lượng cao, giá cước hợp lý... Nhưng 4 năm đóng cổng
Internet là một thời gian quá dài, nhất là khi đặt trong
bối cảnh Internet và công nghệ thông tin có tốc độ phát
triển hết sức nhanh chóng.
Cũng có một thực tế là cho dù Chỉ thị 58 của Bộ Chính trị đã đề ra mục tiêu từ năm 2001, đảm bảo cung cấp đầy đủ và thuận lợi các dịch vụ viễn thông và Internet cho người sử dụng với tốc độ và chất lượng cao, giá cước thấp hơn hoặc tương đương so với các nước trong khu vực, nhưng cho đến nay thực tế là giá cước vẫn cứ cao, chất lượng vẫn cứ thấp.
Ý
KIẾN NGƯỜI TRONG CUỘC
Giáo
sư - Viện
sĩ Đặng Hữu, Trưởng Ban Khoa giáo Trung
ương:
Chất
lượng phục vụ Internet VN là quá
kém
Mức độ giảm
giá Internet hiện nay đã khá nhưng so với thu nhập vẫn
còn cao, kể cả so với các nước xung quanh. Nhà nước đáng
lẽ phải coi hạ tầng thông tin là của chung toàn xã hội
như giao thông vậy. Nhưng thực tế lại bắt phải kinh
doanh nên giá cước mới cao. Nếu coi mọi người được sử
dụng để phát triển kinh tế thì lại
khác.
Ông
Mai Liêm Trực,
Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu
điện:
Sẽ
tụt hậu nếu...
Nếu Internet
cứ phát triển với tốc độ như 4 năm vừa qua thì chắc chắn
sẽ tụt hậu so với thế giới. Những năm trước, quyết định
mở cổng Internet theo năng lực quản lý là đúng. Bởi vì,
cũng như việc mở cửa, cùng với luồng gió mới, ruồi nhặng
sẽ theo vào. Nếu chúng ta không đủ sức đề kháng sẽ bị
bệnh ngay. Vì thế, 4 năm đóng cửa là hơi chậm nhưng hoàn
cảnh của VN chúng ta cần phải trao đổi, bàn bạc thống
nhất giữa các cấp, ngành liên quan nên chậm trễ là điều
có thể hiểu được.
Tiến
sĩ Nguyễn Thiện Nhân,
Phó Chủ tịch Thường trực
UBND TPHCM:
Cần
nhìn ra xung quanh
Internet so
với trước thì tiến bộ, nhưng so với xung quanh thì kém
xa. Trong xu thế hội nhập, chúng ta phải
nhìn ra xung quanh. Nếu hỏi người dân vào Internet đợi
bao lâu thì sẽ có câu trả lời là tắc nghẽn viễn thông.
Internet cũng như nạn tắc đường, nếu không giải quyết sẽ
làm hạn chế đầu tư nước ngoài.
Ông
Đào Minh Tuấn,
Giám đốc Trung tâm CNTT
Vietcombank:
Ai
sẽ chịu rủi ro ?
Mặc dù đã có những ràng buộc chặt chẽ trong các hợp đồng dịch vụ viễn thông, nhưng thực tế, những rủi ro khi có sự cố đường truyền (có thể hàng vài tiếng đồng hồ) gây ra cho ngân hàng đều không bao giờ được giải quyết. Ngân hàng hiện đại muốn hoạt động tốt sẽ phụ thuộc hoàn toàn vào khả năng đáp ứng của viễn thông. Nếu chi phí của viễn thông còn duy trì ở mức cao, còn cơ chế độc quyền, không tạo ra cơ chế cạnh tranh bình đẳng đối với dịch vụ viễn thông thì riêng trong lĩnh vực ngân hàng khó có thể nói đến việc hiện đại hóa và đa dạng hóa dịch vụ ngân hàng.
PcLeHoan
1996 - 2002
Mirror :
http://www.pclehoan.com
Mirror :
http://www.lehoanpc.net
Mirror :
http://www.ktlehoan.com