Điều khiển tiện ích Cleanup
Xem bai viet bang font ABC

PCWorld VN 1/99

    Tiện ích Disk Cleanup của Windows 98 dường như là một giải pháp giải phóng đĩa an toàn và nhanh chóng. Rất tiếc là nó chỉ đề xuất bạn cần bao nhiêu đĩa trống (tuỳ thuộc vào kích cỡ đĩa). Nó cũng luôn nhắc nhở bạn xoá những file nào bạn không dùng trong nhiều tuần. Thỉnh thoảng chương trình còn đề nghị bạn xóa sạch một Recycle Bin hoặc một folder vốn chẳng còn gì trong đó (hình 1).

Hình 1: Đôi khi Disk Cleanup yêu cầu bạn xóa một Recycle Bin vốn đã không có gì.

    Nếu những thói quen này làm phiền bạn, hãy thực hiện những bước sau để có thể điều khiển tiện ích này mà vẫn giữ được chức năng xóa rác rưởi của Disk Cleanup. Trước hết chọn Start.Programs.Accessories.System Tools.Disk Cleanup, chọn ổ đĩa và nhấn OK. Nhấn mục Settings rồi xóa dấu chọn ở mục If disk drive runs low on this space, automatically run Disk Cleanup. Nhấn OK rồi Yes để xác nhận bất kỳ lệnh xóa nào xuất hiện trên mục Disk Cleanup. Đừng lo lắng nếu máy của bạn đang hết đĩa trống, bạn vẫn có thể chạy Disk Cleanup được. Kế tiếp, tạo một shortcut thực hiện Disk Cleanup cho ổ đĩa bạn chọn. Điều này sẽ loại bỏ việc chỉ định ổ đĩa mỗi khi bạn khởi động Disk Cleanup và nó cũng cho phép bạn chỉ xóa những file trên ổ đĩa đã chỉ định ra khỏi Recycle Bin mà không cần phải chỉ ra những file này.

    Sau đây là cách thực hiện: Nhấn phím phải vào nút Start, chọn Open, nhấn đúp vào folder Programs rồi chuyển đến folder có menu bạn sẽ dùng cho shortcut này (bạn cũng có thể tạo một shortcut trên desktop rồi kéo nó vào menu bạn chọn). Kế tiếp, nhấn phím phải vào khoảng trống của folder rồi chọn New.Shortcut. Trong mục Command Line của Wizard Create Shortcut, gõ c:\windows \cleanmgr.exe/dx, trong đó x là ký tự ổ đĩa bạn muốn shortcut này thực hiện dọn đĩa. Nhấn Next, đặt tên cho shortcut rồi nhấn Finish. Thực hiện những bước này cho những ổ đĩa khác nếu cần. Muốn kiểm tra shortcut mới, chọn nó từ menu thích hợp trên menu Start (hình 2). Từ nay trở đi, bạn sẽ biết được khi nào và ổ đĩa nào của hệ thống được "dọn sạch".

Hình 2: Xóa sạch ổ đĩa bằng cách thêm một lệnh cho từng shortcut.

    Cuối cùng, nếu không muốn thực hiện việc vặt này bằng tay, mở tiện ích Scheduled Tasks (nhấn đúp vào My Computer rồi vào Scheduled Task). Sau đó, nhấn đúp vào hình tượng Add Scheduled Task để nhờ wizard giúp bạn tự động cài đặt Disk Cleanup nếu nó chưa được lên lịch. Nhấn đúp vào hình tượng Maintenance Disk cleanup nếu muốn lập lịch lại cho nó hoặc sửa đổi các thông số.

Điều chỉnh chế độ làm việc của máy tính

    Với vốn kiến thức của bạn, phần mềm bạn viết ra có thể làm năng suất phần cứng giảm đi. Điều này xảy ra trong Windows 95 và 98 khi hệ điều hành phải dùng chế độ thực (real mode - là chế độ kết hợp với DOS để quản lý bộ nhớ) để vận hành các driver 16-bit hoặc những phần mềm hệ thống khác thay vì dùng chế độ bảo vệ (protected mode - tổ chức bộ nhớ 32-bit có thể cô lập các chương trình trong bộ nhớ để tránh xung đột).

    Muốn biết một hệ thống có vận hành ở chế độ real mode hay không, nhấn phím phải vào My Computer rồi chọn Properties. Sau đó, nhấn vào mục Performance. Nếu thấy dòng 'Your system is configured for optimal performance' nghĩa là hệ thống đang chạy ở chế độ bảo vệ. Nếu hệ thống có một hoặc nhiều thiết bị đang chạy ở chế độ thực, chúng sẽ được liệt kê trong một khung trên cùng màn hình giống như ở chế độ tương thích MS-DOS (hình 3). Nếu không thấy gì đề cập đến khả năng tương thích MS-DOS, bạn có thể yên tâm mà nghỉ ngơi, nếu có thì phải chú ý. Bản thân khả năng tương thích MS-DOS có thể rất phức tạp, và sau đây là một vài thủ thuật giúp bạn sửa chữa và điều chỉnh hệ thống khi gặp tình huống này.

Hình 3: Kiểm tra System Properties cho những hệ thống ở chế độ tương thích DOS kém tối ưu.

    Chẩn đoán, phần 1: Mục Performance và nhất là nút Details có thể giúp bạn phát hiện ra nguyên nhân nhưng nó cung cấp rất ít thông tin hoặc thông tin không rõ ràng. Hữu ích hơn là danh sách các mục dùng ở chế độ tương thích. Nếu thấy trục trặc nằm ở tên file của driver và biết được nguồn gốc của driver này, nghĩa là bạn đã hoàn thành được phân nửa công việc rồi. Đôi khi bạn cũng có thể đoán được nó liên kết với thiết bị nào bằng cách mở file driver trong một trình xem file nào đó hoặc trong trình xử lý văn bản rồi tìm tên nhà sản xuất (đừng lưu file khi đang xem).

    Chẩn đoán, phần 2: Nói khác đi, nếu chỉ có tên thiết bị được liệt kê còn driver của nó thì không, hãy nhấn vào mục Device Manager và tìm thiết bị đó (hoặc bất kỳ bộ chuyển đổi nào mà nó có thể được nối đến) trong danh sách. Nếu thấy nó được liệt kê cùng với một dấu chấm than màu vàng, hãy nhấn đúp vào để xem các đặc tính (properties) của nó, có thể sẽ có thông tin về sự cố. Nếu xung đột về tài nguyên, hãy tìm đến các thông số IRQ và DMA không xung đột với các thiết bị khác và tham khảo thêm tài liệu của thiết bị.

    Điều chỉnh: Chế độ tương thích MS-DOS (và dấu chấm than màu vàng trong Device Manager) có thể nảy sinh nếu có ai đó cố tình tắt hỗ trợ cho chế độ bảo vệ các ổ đĩa. Khi mục Performance của System Properties vẫn còn đó, nhấn vào File System rồi nhấn tiếp Troubleshooting. Nếu mục AàDisable all 32-bit protected-mode disk drivers' bị đánh dấu, nghĩa là bạn đã khám phá ra điều bí ẩn. Nhưng trước khi bỏ đánh dấu tuỳ chọn này, phải hỏi xem xung quanh bạn ai đã đánh dấu chọn nó (theo mặc nhiên nó không được chọn). Điều này lẽ ra rất cần để hệ thống có thể vận hành được.

    Cập nhật: Nếu sự cố phát sinh từ một driver, bằng mọi cách phải có version mới nhất. Bạn có thể tìm ở địa chỉ Web của nhà sản xuất.

    Gỡ bỏ: Trong nhiều trường hợp, phần mềm buộc Windows phải dùng chế độ thực được nạp từ file autoexec.bat và config.sys. Nếu danh sách trong mục Performance của System Properties không cung cấp đủ thông tin, bạn có thể sao lưu autoexec.bat và config.sys rồi phân tích chúng trong một trình soạn thảo như Notepad chẳng hạn. Nếu thiết bị nghi vấn không phải là ổ đĩa bạn dùng để khởi động hoặc một công cụ nào đó quan trọng, bạn có thể yên tâm gõ rem (sau đó là một khoảng trắng) trước dòng mà bạn nghĩ là nó sẽ nạp phần mềm "thủ phạm". Sau đó lưu file và khởi động lại máy.

    Trở về khung hội thoại System Properties để xem Windows có còn ở chế độ tương thích DOS nữa không. Nếu mục Performance cho biết máy tính của bạn được thiết đặt ở chế độ hiệu năng tối ưu nghĩa là bạn đã tìm ra "thủ phạm". Nếu mọi thứ khác của hệ thống đều vận hành tốt, điều này chứng tỏ chương trình Windows Setup không vô hiệu hóa được dòng lệnh "thủ phạm" trong autoexec.bat hoặc config.sys ngoại trừ chính bạn. Trên lý thuyết, chương trình Setup loại bỏ những dòng lệnh nạp các driver nào mà theo nó là mới và ở chế độ bảo vệ ra khỏi 2 file nói trên. Tuy nhiên, nếu một thiết bị nào đó như ổ CD-ROM hoặc SCSI ngưng hoạt động thì hãy xem thủ thuật kế tiếp.

    Thêm vào: Nếu một thiết bị được liệt kê trong mục Performance nhưng không có trong mục Device Manager (hoặc nếu một ổ đĩa không có trong Explorer do thực hiện thủ thuật trên) và không được Windows phát hiện khi khởi động máy, chọn Start.Settings.Control Panel và nhấn đúp vào Add New Hardware Wizard để cài đặt lại thiết bị này với driver thích hợp.

Tìm virus: Nếu Perfor-mance của System Properties cho biết Aàmbrint13.sys' là driver có "vấn đề" và hiện thời bạn không dùng phần mềm quản lý đĩa, như vậy hệ thống có thể nhiễm virus boot-sector. Hãy dùng chương trình diệt virus để diệt chúng ngay.

Chấp nhận: Có một vài thiết bị vận hành tốt ở chế độ thực. Ví dụ như các disk driver chỉ có thể hỗ trợ quá trình mã hóa dữ liệu ở chế độ này. Nếu cần chức năng như thế, hãy tìm những thiết bị thích hợp được liệt kê trong mục Performance của System Properties.

Tìm hiểu Recycle Bin

Khi xem xét các phân vùng khác nhau trên đĩa cứng (C:, D:, E:, ...), Explorer có hiển thị Recycle Bin của mỗi phân vùng này. Nhưng nếu dùng Explorer để xem bên trong Recycle Bin, bạn sẽ thấy tất cả những Recycle Bin đều liệt kê những file giống nhau (hình 4). Có phải Windows chép mỗi file bạn đã xóa lên mỗi đĩa cứng trên hệ thống làm lãng phí đĩa không? Hoặc nếu đây chỉ là trò "lừa bịp" thì đâu là Recycle Bin thực?

Recycle Bin là một folder thực (dù bị ẩn) nằm trên tất cả các đĩa cứng hoặc phân vùng. Tuy nhiên, mỗi folder Recycled chỉ chứa những file bị xóa khỏi ổ đĩa hoặc phân vùng đó. Bạn sẽ thấy điều này nếu mở một cửa sổ DOS rồi gõ cd\recycled. Sau đó gõ lệnh dir và nhấn <Enter> để liệt kê những file trong thư mục này. Nếu chú ý, bạn sẽ thấy chỉ có những file của đĩa đó mới xuất hiện trong thư mục này. Nếu so sánh danh sách này với những file trong Recycle Bin, bạn sẽ thấy số lượng và kích thước những file trong bất kỳ folder Recycled nào cũng tương ứng với số file của đĩa đó.

Hình 4: Mỗi file bạn xóa dường như đều xuất hiện trong Recycle Bin của mọi ổ đĩa. Vậy đâu là "thùng rác" thật?

    Thế sự thật là như thế nào. Khi Aàném' một file vào Recycle Bin, Windows chuyển file vào folder Recycled của ổ đĩa đó rồi đổi tên nó đi (chỉ giữ lại phần mở rộng) bằng cách dùng một sơ đồ phản ảnh nội dung trên đĩa gốc và trình tự các file bị xóa. Chỉ có những file ẩn và file Info trong mỗi folder Recycled được giữ lại nguyên tên và đường dẫn. Khi phục hồi một file, Windows tham vấn file Info để có thể trả file bị xóa về lại vị trí cũ. Vì thế khi đang ở chế độ DOS, hãy cẩn thận đừng xóa file này đi.

Diễm Trang PCW US 1/99


PcLeHoan 1996 - 2002
Mirror : http://www.pclehoan.com
Mirror : http://www.lehoanpc.net

Mirror : http://www.ktlehoan.com