Kết nối Internet bằng Linux
Xem bai viet bang font ABC
PCWorld VN 9/99
Giờ đây, làm việc trong môi trường mạng, đặc biệt là kết nối với Internet, đã trở nên thông thường đối với nhiều người dùng máy tính. Nếu không qua đường thuê bao riêng (leased line), chắc hẳn bạn sử dụng PPP (giao thức điểm - điểm: point-to-point protocol) theo đường dial-up (qua điện thoại) để truy cập trực tuyến đến nhà cung cấp dịch vụ Internet (ISP). Vậy ở đây chúng ta sẽ cùng xem xét khả năng kết nối vào Internet của Linux, lấy Red Hat Linux làm ví dụ.

Trước khi sử dụng Linux để kết nối vào Internet, coi như bạn đã có Windows và cài đặt một liên kết bằng dial-up networking (nối mạng qua đường điện thoại). Cũng có thể bạn đang chạy một hệ thống khởi động kép, một cho Windows và một cho Linux. Như vậy, bạn phải có những xác lập cấu hình thích hợp cho modem và ISP của mình. Để kiểm tra lại những thông số này, bạn vào menu Start.Control Panel và nhấn vào biểu tượng Modem. Sau đó nhấn lên tab Diagnostics và tìm xem modem của bạn được nối vào cổng nào, thông thường là COM1 hoặc COM2.
Tiếp theo, sử dụng DUN (dial-up networking) để nối vào ISP bạn muốn rồi ghi lại số điện thoại và kết nối với ISP đó qua modem trong Windows. Sau đó chọn Start.Run và nhập "winipcfg". Lưu ý đến địa chỉ IP được chỉ ra dưới Default Gateway. Tiếp theo, nhấn vào nút More Info, xem thiết lập DNS Servers (domain name server) và ghi lại con số đó. Nếu có dòng "..." nằm bên cạnh DNS Servers thì nhấn vào đó để đọc số IP thứ hai. Sau cùng, đóng DUN và winipcfg lại. Trong trường hợp không có Windows, bạn phải liên hệ với ISP của mình để biết được số điện thoại truy cập cũng như các thiết lập DNS và gateway.
Bây giờ, hãy khởi động Linux. Với Red Hat Linux, phần lớn các thiết lập cấu hình được thực hiện trong Linuxconf. Để truy cập vào Linuxconf, chạy X Windows Manager. Tại dòng lệnh, gõ "startx" (nhớ là Linux phân biệt chữ thường và chữ in). Red Hat sẽ chạy Linuxconf, hiển thị nó trên màn hình. Nhấn vào biểu tượng modem chỉ ra cổng (port - device) có gắn modem của bạn.

Buớc tiếp theo là chạy công cụ cấu hình mạng
bằng cách nhấn vào biểu tượng mạng. Nhập số IP của DNS mà bạn đã
ghi lại từ Windows vào hộp Nameserver. Đồng thời, bạn có thể tuỳ ý
nhập hostname trong Hostname và domain trong Domain - chúng cũng giống như
của ISP. Ví dụ người dùng "netvigator" có thể nhập
"netvigator.com" ở đây.
Nhấn vào nút Interfaces, sau đó nhấn Add. Chọn PPP làm Interface Type.
Sau đó nhập số điện thoại của ISP, tên login PPP và password (nếu bạn
đăng nhập không được, quay lại và nhấn vào nút PAP để sử dụng
Password Authentication Protocol).
Nhấn tiếp vào nút Customize, rồi nhấn lên Use hardware flow control and modem lines, và chọn Allow any user to (de)activate interface. Điều này cho phép những người khác sử dụng Linux trên cùng một máy tính để kết nối vào Internet bằng thiết lập dial-up của bạn.
Hãy cẩn thận với thiết lập về Line speed (tốc độ truyền). Mặc dù phần lớn modem làm việc ở tốc độ 115.200 bps, nhưng một số chỉ ở 57.600 bps. Giảm giá trị này xuống nếu kết nối không được. Cũng nên thử thay đổi chuỗi ký tự nằm dưới thiết lập PAP nếu bạn không thể đăng nhập.
Nhấn vào nút Networking. Sau khi chắc chắn là kết nối làm việc tốt, bạn có thể chọn Restart PPP khi không kết nối được: hệ thống tự động thiết lập lại kết nối khi đường truyền bị ngắt. Nếu có các máy tính khác kết nối vào máy bạn, bạn cũng nên chọn Set default route when making connection (default route).
Khi tất cả đã xong, nhấn vào Save để lưu lại các thiết lập. Mỗi khi kết nối vào Internet, bạn gọi đến Network Configuration Setting (hay gõ "netcfg") trong linuxconf, và nhấn vào ppp0, rồi chọn Activate.
Nhật Thanh
PC World HK 8/1999
PcLeHoan
1996 - 2002
Mirror :
http://www.pclehoan.com
Mirror :
http://www.lehoanpc.net
Mirror :
http://www.ktlehoan.com