Thủ thuật
trong Windows
Xem bai viet bang font ABC
PCWorld VN 10/99
Khắc phục các sự cố thường gặp
Phải làm gì khi trục trặc xảy ra với đĩa cứng còn tốt, với việc kiểm soát quyền điều khiển các định dạng của Word, khi in vào một tập tin, và nhiều vấn đề khó khăn khác?
Nguyên nhân nào gây ra tiếng clic...clic...clic phát ra từ máy tính? Một đĩa cứng chết! Nếu khởi động lại và thấy máy thông báo là không có đĩa khởi động thì đích thị là tai họa đã xảy đến với bạn. Một trục trặc nhỏ trong các cài đặt Bios khiến máy tính không khởi động được ngay cả với đĩa mềm khởi động hay ổ CD-ROM. Ngay sau khi tiến hành loại bỏ ổ đĩa cứng tai hại này, phần còn lại của máy tính lại làm việc một cách bình thường.
Nhưng nếu chiếc máy tính của bạn có đến hai ổ đĩa cứng, mà phần bị hỏng là ổ đĩa chứa Windows và các ứng dụng; ổ đĩa cứng chứa dữ liệu đã qua khỏi sự cố và không bị hư hao, thì đúng là "trong cái rủi vẫn có cái may". Một số kỹ thuật viên khuyến cáo là đĩa C hay hỏng hơn đĩa D, cho nên lưu dữ liệu trong ổ D sẽ an toàn hơn. Một điều đáng suy nghĩ.
Việc cài đặt lại Windows và các ứng dụng cũng có một số lợi ích nhất định. Trước hết, bạn có thể giải phóng được khá nhiều không gian đĩa nhờ bỏ hết những chương trình không cần thiết. Thứ hai, máy tính khởi động và chạy nhanh hơn nhiều nhờ Registry không còn chứa đầy các khoản mục đã lỗi thời. Thứ ba, đây là cơ hội cho bạn nâng cấp một số ứng dụng lên phiên bản mới nhất. Và cuối cùng, tai họa đã dạy cho bạn phải nhớ sao lưu toàn bộ hệ thống của mình.
Khắc phục hiện tượng hình phản chiếu của ổ đĩa (Mirror)
Máy tính của tôi có đến hai ổ đĩa cứng chạy Win95B (OSR2). Cách đây không lâu hệ thống của tôi bị treo và khi khởi động lại thì thấy tất cả các biểu tượng đều được hiển thị lớn thay vì nhỏ như trước đây. Sau khi đã khắc phục trục trặc này, tôi cho chạy Norton File Manager và để ý quan sát. Thanh ổ đĩa hiện thêm hai ổ đĩa. Ôổ đĩa E là hình phản chiếu của ổ C, và ổ đĩa F là hình phản chiếu của ổ D. CD-ROM là ổ G. Sau một lúc, hình phản chiếu của ổ C biến mất. Ôổ đĩa E hiện trên màn hình dưới dạng là hình phản chiếu của ổ đĩa D, và CD-ROM là ổ E. Máy tính của tôi bị sự cố thường xuyên hơn so với trước.
Điều gì đã xảy ra? Làm thế nào để thoát khỏi tình trạng hình phản chiếu?Tôi muốn tránh format lại ổ đĩa, đồng thời cũng không muốn cài đặt Win 95 và các chương trình lại từ đầu.
Một số người khi lâm vào tình trạng giống như bạn đã quyết định xóa ổ đĩa phản chiếu để xem thử điều gì xảy ra. Họ cũng thường xóa mọi thứ trên đĩa cứng rồi cài đặt lại Windows và các trình ứng dụng.
Cùng một máy tính có thể biểu hiện những tính chất riêng khác nhau, kể cả các sự cố thường xảy ra. Trong một trường hợp, không thể giao tiếp được với một máy quét hình SCSI, mặc dù card SCSI vẫn khẳng định là có máy quét, và máy quét này vẫn hoạt động tốt. Ngay cả khi đã thay đổi các dây cáp và đầu nối, chạy thử máy quét với máy tính khác, và cài đặt lại phần mềm điều khiển máy quét, vướng mắc vẫn chưa được tháo gỡ.
Cuối cùng, sau khi cho chạy phần mềm chẩn đoán hỏng trên máy tính đó, người ta biết rằng CPU đang ở trong tình trạng "hấp hối". Tiến hành thay CPU thì máy tính chạy tốt. Không biết có phải CPU không tốt gây ra tình trạng phản chiếu ổ đĩa hay không, nhưng rõ ràng nó là thủ phạm của các trục trặc với máy quét và các sự cố.
Để phục hồi PC lại như cũ, bạn hãy tiến hành theo các bước sau:
1. Sao lưu các tập tin dữ liệu quan trọng hay toàn bộ đĩa cứng.
2. Tạo một đĩa mềm khởi động khẩn cấp nếu chưa có (chọn Start/Settings/Control Panel, cho chạy applet Add/Remove Programs, và chọn nhãn Startup Disk).
3. Trong Control Panel, chọn System, và nhấp chuột lên nhãn Device Manager. Nếu Windows phát hiện có một hư hỏng trong bất kỳ bộ phận phần cứng nào, nó sẽ thông báo ở đây. Tiến hành sửa chữa mọi trục trặc ngay khi nhận thấy.
4. Khởi động bằng đĩa mềm khẩn cấp, bạn sẽ kết thúc ở dấu nhắc DOS.
5. Chạy FDISK, gõ Y để hỗ trợ đĩa lớn nếu được hỏi, và sau đó theo dõi thông tin phân vùng của từng ổ đĩa. Chớ thay đổi các thông tin này. Nếu thấy điều gì đó bất thường thì có nghĩa bạn đã bị một trục trặc với các boot record trên ổ đĩa cứng.
6. Dù FDISK có báo trục trặc hay không, bạn cũng có thể thực hiện lệnh sau:
FDISK/MBR
Lệnh này không ghi trong tài liệu, được dùng để FDISK tái tạo boot record; nó có thể giải quyết trục trặc cho bạn.
7. Tìm một kỹ thuật viên có khả năng sử dụng phần mềm chẩn đoán sai hỏng để kiểm tra toàn bộ phần cứng của bạn. Chỉ tiến hành kiểm tra bằng Device Manager thôi thì chưa đủ.
Kéo dài thời gian
Khởi động máy tính trong chế độ MS-DOS vẫn còn hấp dẫn tôi, nhưng menu chỉ cho vài giây để phản ứng trong khi khởi động. Làm thế nào để có thể giữ menu đó trên màn hình cho đến khi tôi kịp nhấn một phím nào đó? Ngoài ra, tôi cũng chưa hiểu hết các khả năng chọn lựa trên màn hình. Chế độ Safe Mode an toàn như thế nào?
Có một cách dễ và một cách khó để thực hiện điều bạn muốn. Cách dễ là tải xuống một tiện ích không được hỗ trợ nhưng miễn phí của Microsoft có tên Tweak UI. Tiện ích này có trong đĩa CD Win98 nhưng không có trong CD Win95. Nếu đang dùng Win95, bạn có thể tải Tweak UI xuống từ http://www.microsoft. com như một phần của Microsoft PowerToys.
Sau khi cài đặt Tweak UI bằng cách nhấn phím phải chuột lên TWEAKUI.INF và chọn Install, biểu tượng chương trình sẽ xuất hiện trong Control Panel. Nhấn đúp lên biểu tượng đó, chọn nhãn Boot, bạn có thể thiết lập bất kỳ tùy chọn khởi động nào. Tùy chọn trên cùng cho phép quy định thời gian chờ của Windows cho đến khi nào bạn nhấn phím F8 (Win95) hay Esc (Win98) (xem hình 1).
|
Hình 1. Sau khi cài đặt Tweak UI, bạn có thể dễ dàng tăng thời gian chờ của Win95 hoặc Win98 trước khi nạp. |
Bạn cũng có thể điều chỉnh các tùy chọn khởi động bằng cách sửa lại MS-DOS.SYS, một tập tin ẩn, chỉ đọc, thường trú trong thư mục gốc của ổ đĩa C. Có thể dùng Windows Explorer để tìm tập tin này với điều kiện là bạn phải thiết lập Explorer sao cho nó hiển thị tất cả các tập tin và phần mở rộng. (Chọn View/Options rồi đánh dấu vào mục Show all files). Sau đó bạn nhấp nút phải chuột lên tập tin tìm được, chọn Properties, rồi tắt thuộc tính ẩn và chỉ đọc. Bạn cũng có thể khiến nó xuất hiện từ dấu nhắc MS-DOS bằng cách tới thư mục gốc của ổ C rồi gõ lệnh sau đây:
ATTRIB -R-H MSDOS.SYS
Sau đó sửa phần [Options] của tập tin này bằng Notepad. Để có thời gian trì hoãn lâu hơn, bạn tìm dòng sau:
BootDelay=n
Tăng giá trị của n, đó là số giây mà Windows sẽ tạm ngưng.
Để biết thêm về các tùy chọn khác nhau giữa các phiên bản Windows, bạn xem trong Win95RK.HLP (thường trú trong folder \Admin\Reskit\HelpFile trên đĩa CD Windows). Khi nhấn đúp chuột lên tập tin, một cửa sổ trợ giúp sẽ mở ra. Chuyển đến Installation/Setup Technical Discussion/System Startup Files/MSDOS.SYS: Special Startup Values. Sau khi đã thực hiện những điều chỉnh cần thiết, bạn lưu tập tin và khởi động lại máy.
Còn về thắc mắc liên quan tới Safe Mode, bạn chỉ nên dùng chế độ này để chẩn đoán và giải quyết các trục trặc của máy tính. Khi khởi động trong Safe Mode, máy tính sẽ không xử lý CONFIG.SYS và AUTOEXEC.BAT. Nó cũng không xử lý Registry, không chạy COMMAND.COM hoặc thực thi các trình điều khiển mạng. Máy chỉ nạp các trình điều khiển phần cứng đối với chế độ VGA thông thường (độ phân giải 640 x 480 pixel), bàn phím, và chuột.
Không được khởi động bất kỳ trình ứng dụng nào trong Safe Mode vì máy tính của bạn không đủ khả năng điều hành khi đang ở trong chế độ này. Tuy vậy, bạn có thể khảo sát các thông số cài đặt của Device Manager và thay đổi các chế độ và độ phân giải video trong Safe Mode, sau đó khởi động lại để những thay đổi này có hiệu lực.
Kiểu chữ của riêng bạn
Tôi đang dùng Win95 và mỗi lần sử dụng Microsoft Word tôi đều phải thay đổi font chữ, chọn cỡ chữ mới, chuyển từ chế độ ghi đè sang ghi chèn, và nhấn phím Caps Lock. Có thể dùng các tham số lệnh để thực hiện những điều này khi chạy Word hay không?
Để khởi chạy Word theo cách của bạn, trước hết phải sao lưu bản mẫu mặc định là Normal.dot, và giấu nó ở nơi an toàn. Bạn có thể dùng bản sao này để phục hồi mọi thứ lại như cũ nếu không vừa ý với những thay đổi vừa thực hiện. Tiếp theo, mở Normal.dot trong Word và quy định lại kiểu chữ Normal hoặc tạo kiểu chữ mới có các thiết lập font mà bạn thích. Các kiểu chữ cung cấp thông tin mặc định cho các đoạn văn bản và được đề cập đến nhiều trong tập tin Help của Word. Bạn có thể xem kiểu chữ đang sử dụng nếu chọn Tools/Options, nhấn lên nhãn View, và chọn một giá trị khác 0 cho ô Style Area Width ở phía dưới hộp thoại. Nhấn Enter.
Ví dụ, nếu muốn dùng Arial thay cho Times New Roman làm font mặc định, bạn phải định nghĩa lại kiểu Normal trong Normal.dot để nó sử dụng Arial. Trong trình đơn Format, chọn Style, rồi chọn Normal từ danh sách phía bên trái, sau đó nhấn vào Modify. Đến đây bạn có thể quy định font chữ, cỡ chữ, các hiệu ứng đặc biệt, v.v... để Word sử dụng khi bạn dùng Normal như là kiểu chữ mặc định của Word (xem hình 2). Sau khi lưu các thay đổi và Normal.dot như một file mẫu, các thay đổi này sẽ có hiệu lực khi bạn khởi động Word và mở tài liệu mới.
|
Hình 2. Để có kiểu chữ cơ bản cho tài liệu vừa ý hơn, bạn có thể thay đổi các thiết lập đối với mẫu cơ bản của Microsoft Word là NORMAL.DOT. |
Muốn tự động nhấn các phím nào đó khi khởi động, bạn ghi một macro chứa các phím đó và đặt tên là Autoexec rồi cất trong Normal.dot. Word sẽ thực hiện các động tác gõ phím này mỗi khi bạn chạy chương trình. Để bắt đầu ghi, bạn chọn Tools/Macro/Record New Macro. Gõ các phím muốn ghi, sau đó nhấn chuột lên nút Stop (biểu tượng hình vuông) trên thanh công cụ ghi macro. Mọi macro có tên Autoexec sẽ được thực hiện một cách tự động khi khởi động Word. Bạn cũng có thể dùng tên khác và chạy Word bằng cách gắn tham số /M macroname lên phần tham số dòng lệnh. Dùng tham số này để tắt hết các macro Autoexec, rồi cho chạy macro mà bạn xác định. Để bổ sung một tham số dòng lệnh, bạn tìm shortcut khởi động Word, nhấn phím phải chuột lên nó, chọn Properties, và bổ sung tham số đó vào cuối dòng trong hộp Target.
Đáng tiếc là bạn không thể tắt/mở phím Caps Lock bằng một macro. Windows giữ quyền kiểm soát phím này chứ không phải Word, cho nên bạn không thể thấy nó trong các macro Word hoặc các lệnh khác.
In ra đĩa
Làm cách nào để có thể bắt Win95 in ra đĩa thay vì in ra máy in?
Kỹ thuật in ra file tùy thuộc vào các yêu cầu in ấn của file muốn lưu lên đĩa. Để lưu một tập tin với các lệnh máy in cần thiết - sao cho về sau bạn có thể in nó trên một máy in đồ họa (máy in laser hay in phun chẳng hạn) - nói chung là dễ dàng. Trong hầu hết các chương trình, khi chọn File/Print thì hộp thoại Print sẽ xuất hiện. Thông thường có một tùy chọn là Print to a File. Nếu chọn tùy chọn này, bạn sẽ được yêu cầu nhập tên tập tin, và chương trình sẽ tự động gán thêm đuôi PRN cho nó. Sau này, khi muốn in tập tin này ra, bạn có thể dùng lệnh DOS sau:
COPY myfile.PRN LPT1
Trong đó myfile là tên bạn đã gán. Lệnh này sẽ gửi tập tin đến máy in gắn với cổng song song đầu tiên (LPT1). (Nếu bạn đã bật cổng nằm trong hộp thoại Properties của máy in này thì lệnh sẽ gửi tập tin cho máy in mạng gắn với cổng đó.)
Mặt khác, nếu chỉ muốn lưu tập tin ở dạng ASCII (văn bản) thì bạn có hai lựa chọn. Thứ nhất, nhiều chương trình có tùy chọn Save As cho phép lưu tập tin dưới dạng text và thường như vậy là đủ. Còn nếu chưa thỏa mãn, bạn có thể tiến hành theo các bước:
1. Trong thư mục Start/Settings/Printers, nhấn Add Printer.
2. Nếu nhìn thấy gợi ý Local/Network, chọn Local.
3. Đối với tên hãng chế tạo máy, chọn Generic và sau đó chọn Generic/Text Only làm Printer Model (xem hình 3).
4. Khi được hỏi về cổng, chọn File.
|
Hình 3. Dùng Add Printer Wizard để thiết lập một "máy in" in ra tập tin. Trước hết điểm sáng Generic trong hộp Manufacturer, sau đó điểm sáng Generic/Text Only. |
Từ nay về sau, bất cứ khi nào in ra máy in đó, bạn đều nhận được yêu cầu cung cấp tên tập tin. Tập tin bạn tạo ra sẽ chứa văn bản ASCII cũng như các mã điều khiển tối thiểu mà Windows sẽ phải gửi cho máy in để tạo nên tài liệu của bạn mà không cần động tác format nào.
Dùng Guest
Tôi muốn biết cách cài đặt đĩa khởi động khẩn cấp sao cho Windows có thể nhận ra ổ Zip đang sử dụng. Đĩa khởi động Win95 hiện tại của tôi nhận được các ổ A, C, và D nhưng không thể nhận ra ổ Zip, ổ E.
Nếu không nhận được driver DOS khi mua ổ Zip, bạn hãy tải nó xuống từ http://www. iomega.com. Chương trình phải tìm là phiên bản DOS/Windows 3.1 của Guest.Exe dùng để liên kết ổ Zip hay ổ Jaz với hệ điều hành và gán cho nó một chữ cái ổ đĩa.
Chép phiên bản DOS của Guest.Exe vào đĩa khởi động. Sau đó sửa lại bản Autoexec.bat trên đĩa khởi động, bổ sung thêm lệnh:
GUEST
Chèn dòng này vào ngay sau chạy MSCDEX.EXE, chương trình này có nhiệm vụ gán một chữ cái cho ổ CD-ROM của bạn. Bằng cách này, ổ Zip sẽ được nối vào dưới dạng là ổ đĩa kế tiếp CD-ROM.
Đây là cách thuận lợi để gắn ổ Zip vào máy tính chỉ cho phiên làm việc DOS - trong tình trạng bạn không thể khởi động vào Windows, hoặc muốn gắn ổ Zip lưu động vào máy tính của ai đó để dùng trong Windows hoặc DOS. Tuy nhiên, bạn sẽ không chạy được một cách thường xuyên phiên DOS này của Guest khi đang sử dụng ổ Zip với Win95 hay Win98. Đây là phiên bản 16 bit của phần mềm Zip; nó sẽ chạy kém hiệu quả trong Windows. Cài đặt ổ đĩa này, khởi động lại mà không chạy Guest, khởi động Windows, các driver Zip sẽ được tải bình thường.
Một đường dẫn ít trắc trở nhất
Trên hệ thống IBM Aptive Win95 (95B), tôi có một số chương trình mà các tập tin của nó lưu trú ở những folder nằm rất sâu trong cây thư mục. Khi chạy ScanDisk trong Windows hay DOS, chương trình bị ngưng lại khi gặp các đường dẫn có trên 66 ký tự và hỏi có muốn xóa các tập tin đó không. Vì ScanDisk là chương trình bảo dưỡng hệ thống rất quan trọng, cho nên tôi không biết có cách nào khắc phục tình trạng này không?
Có hai phiên bản ScanDisk đi kèm Win95: SCANDSKW.EXE và SCANDISK.EXE. Phiên bản thứ nhất chạy từ menu Start (chọn Programs/Accessories/System Tools/Scandisk) hoặc khi bạn gõ lệnh SCANDISK từ một phiên MS-DOS chạy trong Windows. Bạn có thể nhận biết phiên bản này nhờ hộp thoại giống Windows mà nó hiển thị khi chạy.
Phiên bản thứ hai chạy trong môi trường DOS thuần tuý. Đó là phiên bản mà bạn gặp kể từ Win95B trở đi trong quá trình khởi động nếu bạn không đóng Windows theo đúng quy cách. Phiên bản này chạy trong chế độ văn bản DOS, thường có nền màu xanh và một thanh trạng thái màu vàng kéo ngang qua màn hình.
Khi SCANDSKW kiểm tra các tập tin và folder, nó sẽ yêu cầu hệ điều hành cung cấp tên "rút gọn" của từng tập tin. Nếu tên đó dài hơn 66 ký tự, SCANDSKW sẽ hiển thị một thông báo lỗi và chờ quyết định của bạn (xem hình 4). SCANDISK.EXE thì dường như không quan tâm đến các tên file dài. Không rõ nó hoàn toàn không nhìn thấy các tập tin như vậy hay bỏ qua chúng hoặc có cách nào đó để làm việc với chúng một cách gián tiếp.
|
Hình 4. Nếu SCANDSKW.EXE gặp một tên đường dẫn dài quá 66 ký tự, nó sẽ dừng lại và hỏi xem bạn muốn bỏ qua vấn đề, dời chỗ, hay loại bỏ folder đó. |
Để chạy ScanDisk từ trong Windows, bạn có ba lựa chọn:
* Rút ngắn các tên đường dẫn dài để ScanDisk không đưa ra thông báo lỗi (giải pháp này đôi khi không thể áp dụng, nhất là khi các mục trong Windows Registry chỉ tới những tập tin đã bị SCANDSKW than phiền).
* Nhấn Ignore mỗi khi SCANDSKW đưa ra một lỗi như vậy.
* Tìm một chương trình thay thế không xem các đường dẫn dài là lỗi.
Một ví dụ về chương trình thay thế này là Norton Disk Doctor, một phần của Norton Utilities for Windows 95 và Norton System Works; cả hai đều của Symantec Corp.
Đừng lo lắng về việc chạy ScanDisk khi nâng cấp lên Win 98. Trình cài đặt của Win98 sẽ chạy phiên bản DOS của ScanDisk mà không than phiền về đường dẫn dài.
Bùi Xuân Toại
Windows 9/1999
PcLeHoan
1996 - 2002
Mirror :
http://www.pclehoan.com
Mirror :
http://www.lehoanpc.net
Mirror :
http://www.ktlehoan.com