Lỗi thường gặp ở Windows
Nguyễn Việt Khoa - Khoa Ngoại ngữ - Đại học Bách khoa Hà Nội - Email:
vietkhoabk@hotmail.com
Khi hệ thống gặp bất ổn, hệ điều hành (HĐH) sẽ cố gắng đưa ra các thông
báo lỗi cho người sử dụng nhận biết để xử lý. Trong một số trường hợp, thông báo
lỗi rất rõ ràng và dễ hiểu. Nhưng trong phần lớn các trường hợp, HĐH đưa ra
những thông báo chung chung, hoặc khó hiểu, và nhiều khi làm người sử dụng cảm
thấy bối rối. Điều này đặc biệt đúng đối với các HĐH Windows của Microsoft. Bài
viết cố gắng mô tả và tìm hiểu nguyên nhân một số lỗi thường gặp nhất khi sử
dụng Windows.
1. Fatal Exception Error OE/OD Error
Lỗi Fatal Exception Error (tạm dịch là Lỗi ngoại lệ chết người) có 2 loại OE và
OD.
Lỗi Fatal Exception OE xảy ra bất cứ khi nào bộ vi xử lý gặp lỗi dữ liệu hoặc
lỗi của chương trình thực thi. Lỗi này có thể xảy ra trong các trường hợp sau:
a.. Chương trình đang chạy bị lỗi.
b.. Dữ liệu hoặc mã máy không hợp lệ được gửi tới HĐH và Bộ vi xử lý.
c.. Cấp độ ưu tiên thực thi của một chương trình bị vi phạm.
Khi một trong 3 trường hợp nêu trên xảy ra, bộ vi xử lý sẽ gửi thông báo ngoại
lệ (exception) tới HĐH, và nếu HĐH không sửa được lỗi, nó sẽ gửi thông báo lỗi
Fatal Exception tới màn hình cho người dùng biết. Trong nhiều trường hợp, lỗi
Fatal Exception là không thể cứu vãn được, và bạn chỉ còn một cách duy nhất là
nhấn nút Power hoặc Restart của PC tuỳ theo mức độ nghiêm trọng của lỗi.
Lỗi Fatal Exception OD cũng xảy ra khá thường xuyên đối với người dùng Windows.
Lỗi này có thể đến từ các nguyên nhân như trình điều khiển card màn hình bị
hỏng hoặc quá cũ với HĐH, hoặc một phần mềm đa phương tiện nào đó yêu cầu nâng
cấp cho phù hợp với HĐH. Đôi khi lỗi OD là do file Hsflop.pdr bị mất hoặc bị
hỏng.
2. Invalid Page Fault Error
Lỗi Invalid Page Fault Error (tạm dịch là Lỗi bộ nhớ ảo không hợp lệ) xảy ra khi
các tham số trao đổi giữa 1 chương trình và HĐH bị sai lệch bất thường.
Tham số không hợp lệ sẽ khiến cho chương trình chạy sai và do vậy, HĐH sẽ đưa ra
thông báo lỗi Invalid Page Fault. Lỗi này thường xảy ra ở những trường hợp sau:
a.. Bộ nhớ ảo (VM) bị mất ổn định vì thiếu bộ nhớ vật lý (RAM).
b.. VM bị mất ổn định vì thiếu không gian đĩa cứng.
c.. Khu vực VM trên đĩa cứng bị một chương trình nào đó làm hỏng.
d.. Một chương trình nào đó truy cập vào vùng dữ liệu đang được một chương
trình khác cập nhật hoặc bổ xung.
3. General Protection Fault Error
Lỗi General Protection Fault Error (tạm dịch là Lỗi bảo vệ chung) thường xảy ra
khi có bất ổn với phầm mềm, hoặc báo hiệu rằng một trình điều khiển thiết bị nào
đó đã lỗi thời và cần được nâng cấp.
Nếu không thể tự mình xác định được nguyên nhân gây lỗi, bạn có thể nhờ tới Dr.
Watson. Chương trình này là một công cụ hữu hiệu để chuẩn đoán tình trạng hoạt
động của Windows khi có trục trặc xảy ra. Nó không chỉ tìm ra thủ phạm gây lỗi
mà còn gợi ý cho bạn những hướng giải quyết tương đối hiệu quả.
Để Dr. Watson “bắt được thủ phạm”, ngay sau khi gặp lỗi General Protection
Fault, bạn nên chạy công cụ này. Bạn chọn Start – Run – Gõ “drwatson”.
4. Windows Protection Error
Lỗi Windows Protection Error (tạm dịch là Lỗi bảo vệ Windows) xảy ra khi HĐH cố
gắng nạp hoặc loại bỏ hoạt động của một trình điều khiển thiết bị ảo (*.vxd)
Mỗi khi HĐH thông báo về lỗi Windows Protection , bạn có thể chắc chắn rằng một
trình điều khiển thiết bị nào đó đã gặp trục trặc. Trong phần lớn cách trường
hợp, file *.vxd bị lỗi sẽ được nêu tên trong thông báo của HĐH. Tuy nhiên, trong
một số trường hợp đặc biệt, bạn không thể xác định được file *.vxd nào có vấn đề
qua thông báo của Windows. Để xác đinh lỗi file *.vxd trong những trường hợp
này, bạn nên chọn chế độ khởi động Step-by-Step Confirmation (hoặc Debugging
Mode) để xác định trình điều khiển thiết bị nào cần được sửa chữa. Để chọn chế
độ nêu trên, nhấn phím Ctrl (Win9x) hoặc F8 (Win2K, XP) cùng lúc khi HĐH bắt đầu
khới động, rồi chọn Step-by-Step Confirmation (hoặc Debugging Mode) từ danh
sách.
Lỗi Windows Protection có thể đến từ các nguyên nhân sau:
a.. Có xung đột giữa một trình điều khiển chế độ thực (real-mode) với một
trình điều khiển chế độ bảo vệ (protected-mode).
b.. Registry của Windows bị hỏng.
c.. File Win.com hoặc file Command.com bị nhiễm virus hoặc bị hỏng.
d.. Một trình điều khiển thiết bị chế độ bảo vệ được nạp lên từ file
Systen.ini trong khi trình điều khiển này đã được tải lên rồi.
e.. Có xung đột giữa các địa chỉ vào-ra vật lý (I/O address ) hoặc địa chỉ bộ
nhớ truy cập ngẫu nhiên (RAM address).
f.. Các thiết đặt cho thiết bị ngoại vi trong CMOS không phù hợp.
g.. Tính năng “Cắm – Xài” (Plug & Play) của BIOS làm việc không ổn định.
h.. Bộ nhớ (hoặc bộ nhớ đệm cache của PC có trục trặc.
i.. Bo mạch chủ của PC hoạt động không ổn định.
j.. PC của bạn có cài cả Microsoft Office 97 và phần mềm Novell Client32
5. Kernel32.dll
Lỗi Kernel32.dll (tạm dịch là Lỗi file Kernel32.dll). File Kernel32.dll là một
file thư viện động 32 bit có trong Win9x và ME. File này chịu trách nhiệm quản
lý bộ nhớ, các hoạt động vào-ra cũng như các ngắt. Khi Windows bắt đầu khởi
động, file Kernel32.dll được tải lên một khu vực đặt biệt trong bộ nhớ. Khu vực
này được bảo vệ đặc biệt khiến cho các chương trình khác không thể tiếp cận được
một khi Kernel32.dll đã chiếm chỗ.
Lỗi Invalid Page Fault xảy ra khi một chương trình cố gắng thâm nhập vào khu
vực bộ nhớ được bảo vệ của file Kernel32.dll. Đôi khi lỗi này có thể xảy ra khi
chạy một chương trình cụ thể, nhưng cũng có khi nó xảy ra với nhiều chương trình
khách nhau. Nếu lỗi là do một chương trình gây ra thì chương trình đó cần được
thay thế. Nhưng nếu lỗi xảy ra với nhiều chương trình khác nhau thì bạn nên nghĩ
tới khả năng phần cứng có vấn đề.
Bạn nên chọn chế độ khởi động Step-by-Step Confirmation (hoặc Debugging Mode) để
kiểm tra xem các chương trình thường trú có phải là nguyên nhân gây lỗi không.
(Nói vậy không có nghĩa là loại bỏ khả năng các chương trình khác cũng có thể
gây lỗi).
Lỗi Kernel32.dll có thể đến từ các nguyên nhân sau:
a.. File tráo đổi (swap/paging) bị hỏng.
b.. Phân vùng file không hợp lệ.
c.. Danh sách mật khẩu bị mất.
d.. File Kernel32.dll bị hỏng hoặc sai phiên bản.
e.. Registry của Windows bị hỏng.
f.. Lỗi phần cứng (CPU quá nóng, tình trạng overclocking, bộ nguồn không ổn
định, lỗi đĩa cứng...).
g.. Các thiết đặt (cho RAM, Cache...) trong BIOS không chính xác.
h.. Lỗi phần mềm.
i.. File *.dll bị lưu trên Desktop.
j.. Thư mục Temp bị mất hoặc hỏng.
k.. File *.cpl (control panel) bị hỏng.
l.. Trình điều khiển phần cứng bị lỗi hoặc bị hỏng.
m.. Cài đặt sai trình điều khiển máy in.
n.. Máy ảo Java bị hỏng.
o.. File *.log bị hỏng.
p.. Lỗi trong thư mục History.
q.. Các file thư viện liên kết động (*.dll) bị hỏng hoặc không đúng phiên bản.
r.. Thiếu chỗ trên đĩa cứng
s.. Cùng một số các trục trặc khác liên quan tới file Kernel32.dll.
6. Stack Fault
Stack (tạm dịch là Ngăn xếp) là một vùng bộ nhớ dùng cho các file thực thi hoặc
cho các quá trình xử lý. Lỗi Stack xảy ra khi một ứng dụng hoặc một quá trình sử
lý cố truy cập vào vùng bộ nhớ bên ngoài khu vực Stack. Lỗi này thường dẫn đến
treo máy.
7. Missing or Damaged Files
Missing or Damaged Files (tạm dịch là Lỗi file bị mất hoặc hỏng). Đây là một lỗi
rất thường gặp ở Windows. Nguyên nhân của lỗi này có rất nhiều, và đôi khi rất
khó thể xác định được nguyên nhân.
Để khắc phục tình trạng này thì cách tốt nhất là tìm file bị mất trong bộ cài
đặt và chép đè lên file bị hỏng, hoặc chép tới vị trí của file bị mất. Trong
trường hợp không được thì bạn cần phải cài đặt lại chương trình.
Cho dù trong bất cứ hoàn cảnh nào thì bạn cũng nên xác định xem file lỗi bị mất
hay bị hỏng. Dựa trên thông báo lỗi, bạn nên dùng lệnh Find hoặc Search của
Windows để tìm file. Nếu tìm thấy (tức là file bị hỏng), bạn nên tìm xem file
này của HĐH, của các chương trình Microsoft, hay của một hãng khác. Để làm vậy,
bạn nhấn chuột phải vào file, chọn Properties, nhấn lên nhãn Version (nếu có).
Thông tin về file nàm ở đây, và dựa vào đó bạn có thể xác định được file bị mất
thuộc chương trình nào, và tìm file thay thế ở đâu. Nếu không tìm thấy file,
hoặc không biết file do ai phát triển, bạn nên thử một vài cách sau để tìm thông
tin:
a.. Kiểm tra xem có chương trình nào không chạy khi bạn có gắng cho nó làm
việc.
b.. Xác định xem thông báo lỗi có xuất hiện khi bạn chạy một chương trình cụ
thể nào đó không.
c.. Kiểm tra những chương trình được cài đặt (hoặc gỡ cài đặt) gần nhất.
8. Blue screen of death
Blue screen of death (tạm dịch là Màn hình màu xanh chết chóc) không nên coi là
lỗi mà nên được coi là hậu quả nghiêm trọng cho hệ thống do lỗi gây ra. Khi bạn
nhìn thấy màn hình màu xanh này có nghĩa là Windows đã mất khả năng kiểm soát.
Bạn được khuyên là hãy nhấn tổ hợp phím CTRL-ALT-DEL để khởi động lại PC. Tuy
nhiên, trong nhiều trường hợp, kiểu khởi động nóng này cũng không có tác dụng,
và bạn chỉ còn một cách duy nhất là nhấn nút Restart hoặc Power trên PC mà thôi.
So với những người anh em Win9x của mình thì Win2K và XP tỏ ra có khả năng chịu
đựng lỗi cao hơn nhiều, đặc biệt là WinXP. Tuy nhiên không phải là Win2K và XP
không có lỗi. Khi quản lý được lỗi, WinXP đề nghị bạn gửi thông tin về lỗi cho
Microsoft xử lý. Khi không sửa chữa được trục trặc (mặc dù tình trạng này không
nhiều) WinXP hoặc: bất ngờ khởi động lại PC mà không đưa ra một thông báo nào,
hoặc: xuất hiện màn hình màu xanh kiểu mới với những thông báo rất khó hiểu với
người dùng thông thường. Trong trường hợp này, bạn cũng chỉ có thể nhấn nút
Restart hoạc Power trên PC mà thôi.
Trong bài viết này, tôi chỉ bước đầu mô tả và tìm hiểu nguyên nhân một
số lỗi hay gặp nhất khi người dùng chạy các HĐH Windows của Microsoft. Qua đó,
tôi cũng cố gắng đưa ra một số hướng giải quyết để các bạn cùng tham khảo khi
“không may” gặp phải những lỗi nêu trên. Hy vọng bài viết sẽ phần nào giúp bạn
tự tin hơn trong việc sử dụng Windows nói riêng và trong quá trình học hỏi, nâng
cao trình độ tin học nói chung.
Rất cảm ơn các bạn đã đọc bài viết của tôi.
PcLeHoan
1996 - 2002
Mirror :
http://www.pclehoan.com
Mirror :
http://www.lehoanpc.net
Mirror :
http://www.ktlehoan.com