Norton Utilities công cụ mạnh để quản lý hệ thống

Trương Mạnh An - DHBK HN; Mailto:antm75@yahoo.com

    Có lẽ mọi người đã quá quen thuộc với Symantec. Có thể bạn không nhớ, hoặc không quan tâm, nhưng NC là một tiện ích 16 bit tuyệt vời của Symantec đã được bao người sử dụng từ thời DOS còn thống trị. Ngày nay trên nền 32 bit, Nc không còn được sử dụng nhiều nữa nhưng Symantec vẫn nổi tiếng với rất nhiều công cụ mạnh để quản lý hệ thống có thể giúp bạn trong mọi lĩnh vực.

    Norton Utilities (gọi tắt là NU) nằm trong bộ Norton SystemWorks (NSW) có thể nói là một công cụ tuyệt vời mà bạn cần quan tâm. Nếu bạn dùng bộ Office của McAfee, có thể bạn không muốn chuyển sang NU, nhưng những điều tôi trình bày dưới đây có thể làm bạn nghĩ lại.

    Đây là màn hình chào mừng khi bạn đưa đĩa CD ct vào ổ, bạn có thể cài đặt cả bộ NSW hoặc cài riêng từ phần. NSW bao gồm: Norton Utilities (NU), Norton AntiVirus (NAV), Norton CleanSweep (NCS), WinFax Basic, Norton Ghost . Theo từng phiên bản mà bạn sử dụng thì có thể sẽ có phần thêm khác nhau, phiên bản NSW mới nhất là 2001, ra ngày 01/09/2000 để đáp lại sự ra đời của Win ME và Win2000 Sevice Pack 1. Người anh em trước đó là bộ NSW 2000, dành cho Win 98SE.

    Nếu bạn cài đặt đầy đủ, bạn cần 216 MB đĩa trống, nếu không cài hoàn toàn, bỏ phần WinFax Basic thì có lẽ bạn chỉ cần đến 164 MB, còn nếu cài riêng NU không thôi thì bạn chỉ cần đến 36 MB, rất gọn nhẹ.

    Nói chung tôi khuyên bạn không nên cài toàn bộ NSW, (bằng các click vào phần Install NSW ở hình trên, phía sau), cho dù bạn có sử dụng toàn bộ các chức năng của nó. Nếu bạn cài theo cách trên, khi sử dụng một chức năng riêng gì (ví dụ chỉ dùng NAV không thôi) thì bạn có thể phải chờ lâu để nạp hàng loạt chức năng khác (SysTray) cho bộ NSW sẵn sàng. Còn việc bạn cài riêng lẻ từng chức năng thì sẽ “dùng gì, khởi động đấy”, tiết kiệm thời gian và bộ nhớ !.

    Để nạp cài đặt từng phần, bạn vào Browse CD, ở đây có hàng loạt thư mục được viết tắt cho từnd phần: NAV, NAVNT, NU, NSW…Nếu muốn cài NU, vào thư mục NU, tìm chạy file setup.exe để bắt đầu quá trình. Nếu bạn không có đĩa NSW, thì chắc là bạn có những bộ cài riêng lẻ từng phần (như trong các CD của anh Lê Hoàn chẳng hạn) và bạn sẽ tiến hành cách trên (tên thư mục chứa bộ cài có thể khác nhau). Bộ cài chính thức của NU thường chứa file K2SRECAL.EXE có biểu tượng “mã vạch”, dung lượng 54,7MB và file NUEGG.EXE dung lượng 1,08MB là các file của ct Flash Player để giới thiệu về các Team của NU rất sinh động, có các file này thì bạn đã có bản quyền với Symantec mà nó sẽ chẳng hỏi han gì về sau (cả bộ NSW).

    Quá trình cài đặt tiến hành bình thường, bạn cứ bấm Next mà không phải nhập bất cứ một số serial nào cả. Tiếp theo đó NU hỏi bạn xem cài ở chế độ nào, bạn hãy chọn một chế độ cho mình phù hợp nhất với khả năng sử dụng. Sau khi quá trình cài đặt hoàn tất, bạn nên khởi động lại để hệ thống làm việc theo thiết đặt mới.

    Tuỳ theo bạn đang sử dụng Win 9X hay Win NT mà bây giờ bạn có thể có các chức năng gì. Với Win 9X, bạn có đầy đủ các chức năng, có lẽ Symantec cũng như chúng ta – đã quá quen thuộc với Win 9X và có quá nhiều kinh nghiệm để làm chủ Win 9X, còn với Win NT thì các chức năng bị hạn chế đi rất nhiều.

    Bây giờ, tôi xin trình bày khả năng hoạt động của từng tiện ích của NU. Xin lưu ý rằng phần này chỉ có giá trị với Win 9X, còn với WinNT, tôi xin trình bày các thay đổi của nó ở mục sau cùng.

Norton Utilities Integrator chính là phần hợp nhất các ứng dụng của NU trong một hành lang duy nhất, từ cơ quan đầu não này, bạn có thể sử dụng mọi tiện ích sau đó của NU mà không phải tốn nhiều Click chuột.

Norton Disk Doctor (NDD) đúng là một tính năng mà bạn quan tâm trước hết. NDD chạy trong Windows 32 bit có đầy đủ tính năng để kiểm tra và sửa chữa đĩa, có lẽ bạn đã quá quen thuộc với nó ngay từ những phiên bản cũ của NU (còn chạy trên nền DOS).

    Giao diện sử dụng của NDD trong Win9X được trình bày như hình bên, khá đẹp và thân thiện so với những người anh em của nó. Nhưng bạn nên quan tâm đến hiệu quả của nó hơn. Trước hết bạn vào tuỳ chọn Options, ở đó có các Tab để bạn thiết đặt chế độ làm việc.

    General cho phép bạn thiết đặt có cho NDD tự động kiểm tra tình trạng đĩa khi khởi động hay không và kiểm tra ổ đĩa cụ thể nào, theo tôi bạn không nên sử dụng thiết đặt này trừ khi ổ cứng của bạn quá già cỗi và đã xuất hiện bad thường xuyên. Khi thiết đặt nó sẽ làm quá trình khởi động chậm đi. Trong ô Repair Option cho phép bạn thiết đặt những việc nó làm khi thấy lỗi, nên để mặc định là Ask Me First, nó sẽ hỏi bạn có sửa chữa hay không với các lỗi trầm trọng có thể làm hỏng dữ liệu của bạn.

    Appearance cho phép bạn thiết đặt những thể hiện của NDD khi nó hoạt động. Trong ô Animation có kiểm chọn Enable Animation, kiểm chọn này cho phép bạn có để chế độ hoạt hình (hình chiếc kính núp soi soi vào bề mặt đĩa) hay không, mặc định là có, tuy nhiên nên bỏ kiểm chọn này vì nó chỉ làm chậm quá trình - trừ khi bạn là người ưa hình thức. Trong ô Music, bạn có thể thiết đặt NDD có chơi một bản nhạc nào không khi nó đang kiểm tra đĩa, thông thường quá trình kiểm tra là rất ngắn nếu không Serface Test - nên không cần thiết, còn nếu bạn thiết đặt chế độ này thì bạn có thể chơi một file dạng midi hay wav, tốt nhất là cho nó chơi midi vì loại file này rất ngắn, không chứa đầy RAM của bạn khi đang trong quá trình kiểm tra. Custom Message là chức năng hiện dòng thông báo của chính bạn soạn thảo khi NDD phát hiện ra lỗi.

    Serface Test là một chức năng quan trọng, thông thường bạn chỉ cần chọn chế độ này một lần trong một vài tháng để kiểm tra tình trạng vật lý của đĩa. Chức năng này nếu theo đúng tên gọi của nó là kiểm tra bề mặt vật lý của đĩa, tuy nhiên điều đó không thể thực hiện được hoàn hảo theo đúng nghĩa đen. Nguyên lý hoạt động của chức năng này là ghi thử vào đĩa của bạn, sau đó đọc lại xem quá trình ghi có đúng không, nếu không đúng thì phần đó của đĩa bị bad, như vậy đây là quá trình đọc nghi liên tục trên đĩa. Mặc định là có trong ô kiểm chọn Enable Serface Testing, tuy nhiên sau khi test lần đầu và thấy yên tâm thì bạn có thể bỏ kiểm chọn này cho NDD chạy nhanh hơn trong những lần làm việc kế tiếp. Các ô chọn ở dưới là lựa chọn mở rộng của Serface Test. Passes cho phép bạn chạy serface bao nhiêu lần (đặt ở Repetitions, ô bên phải) hay cứ tiếp tục chạy liên miên cho đến khi bạn skip nó thì thôi (tuỳ chọn kiểm Continuous ở dưới). Type of Test cho phép bạn lựa chọn Normal Test hay Thorough Test, chế độ Normal nhanh hơn do NDD sẽ ghi-đọc cách quãng trên ổ đĩa, chế độ Thorough thì ghi-đọc kỹ lưỡng hơn, bạn chỉ nên chọn chế độ này khi đĩa quá cũ và bạn nghi ngờ về khả năng bad của nó. Trong ô What to Test cho phép bạn thiết đặt serface test trên toàn bộ bề mặt đĩa (Entire Disk Area) hay chỉ trên các vùng đĩa đã được sử dụng (Area Used by Files), bạn nên chọn trên toàn bộ đĩa vì bạn sẽ phải sử dụng đĩa sau cho các công việc khác sau này. Display Disk Map cho phép bạn có hiển thị bản đồ sử dụng trên bề mặt đĩa hay không, nên chọn tuỳ chọn này để bạn có thể đỡ nhàm chán khi quá trình Serface test kéo dài (khoảng trên 45 phút cho một đĩa 8GB, còn tuỳ thuộc vào dung lượng và tốc độ đĩa).

    Advanced cho phép thiết đặt mở rộng của NDD, nên để thiết đặt này mặc định để tối ưu khả năng của NDD, nếu không bạ có thể bỏ đi một vài phần.

    Sau khi thiết đặt xong trong Options, bạn có thể tiến hành kiểm tra đĩa bằng nút Diagnose, trong quá trình kiểm tra nếu phần nào quá lâu, nếu nút Skip không bị ẩn đi (ví dụ với Serface Test) thì bạn có thể bỏ qua quá trình kiểm tra đó. Khi kết thúc quá trình, NDD sẽ hiệnmột bảng thông báo về tình trạng và các lỗi nó phát hiện được, sửa hoặc không... Chi tiết hơn, bạn bấm vào nút Details

Norton WinDoctor là một tính năng kiểm tra Windows rất mạnh, bạn có thể dùng nó để kiểm tra đa số lỗi của Win về file hệ thống, registry…Màn hình hoạt động của nó được trình bày như hình bên.

Có ba kiểu lựa chọn cho cơ chế làm việc của NWD

    Perform all NWD test được Symantec đề cử sử dụng (dòng Recommended trong ngoặc) sẽ để NWD kiểm tra toàn bộ các vấn đề mà nó nhận biết được của Win. Bạn cũng nên để tuỳ chọn này bởi vì thời gian mà Win quét rất nhanh (trong khoảng một hai phút).

    Let me choose which test to run cho phép bạn thiết đặt các mục mà NWD sẽ kiểm tra, tuỳ chọn này chỉ thích hợp với những người có trình độ cao hơn một chút (hoặc đã có kinh nghiệm sd) đến nỗi hiểu rõ HDH của mình không cần thiết phải kiểm tra những gì (việc kiểm tra của NU cũng có thể gây lỗi cho HDH nếu nó không được cập nhật thường xuyên, ví dụ bạn không dùng NU2001 cho Win ME mà lại dùng NU2000 thì rất có thể gây lỗi) mà có thể việc sửa chữa về sau này với kiểm tra đó có thể gây lỗi.
Và để sửa chữa những lỗi có thể gây ra do NWD làm việc và sửa chữa ở phiên làm việc trước đó, bạn có thể vào mục: View Repair History and (optionally) undo changes để vào bảng liệt kê các vấn đề và các giải quyết trước đó (hình bên) khá chi tiết. Ỏ tuỳ chọn này bạn có thể Undo lại việc sửa chữa của chính bạn hoặc NWD.

    Ta tiến hành lần đầu tiên nên chọn tuỳ chọn đầu tiên và bấm Next, NWD sẽ tự động làm việc cho đến khi nó thông báo bạn ấn Next để ra kết quả. Bảng NWD Wizard quả sẽ cho bạn biết có bao nhiêu vấn đề được tìm thấy hoặc thông báo không có một vấn đề nào, bạn bấm Finish sẽ cho ra một bảng giống như bảng ở hình trên (có thể chuyển đổi sang bảng trên bằng cách bấm History) chứa các vấn đề vừa tìm thấy. Bạn nên bấm Advanced để ra một khung giống như explorer (hoặc ấn Detail để ra hai cửa sổ trên/dưới)

    Bây giờ là lúc để giải quyết các vấn đề vừa tìm thấy. Giả sử bạn bấm Advanced, ở cửa sổ bên phải bạn thấy các vấn đề tập hợp lại thành các kiểu khác nhau, nếu trái chuột vào đó thì sẽ thấy các vấn đề chi tiết hiện lên ô bên phải. Có hai cách giải quyết:

    1. Bạn để NWD tự sửa chữa vấn đề (chỉ việc bấm vào Repair All, chọn YES), điều này thích hợp với các bạn chưa có nhiều kinh nghiệm và kiến thức về Windows, bạn có thể hoàn toàn yên tâm nếu bạn có đúng phiên bản NU thích hợp (đề cử: phiên bản mới nhất, tại thời điểm hiện nay 6/2001 là NU2001 cho Win98SE, ME, 2000 SP1)

    2. Để bạn tự tiến hành sửa chữa theo gợi ý của NWD. Khi này bạn chuột trái vào từng vấn đề liệt kê bên ô phải, sau đó bấm Repair, NWD sẽ đưa ra một danh sách các khả năng để bạn có thể sửa chữa cho đúng, bạn chọn một khả năng và bấm Repair. Xin lưu ý rằng các đề cử này thường đúng, an toàn nhất ở bên trên theo thứ tự thấp, nếu để NWD tự sửa chữa, nó sẽ sửa theo đề cử Solution 1. Việc bạn tự sửa cũng không cần nhiều kinh nghiệm lắm bởi NWD thường chỉ đưa ra những gợi ý đúng (ngoại trừ việc bạn chọn Open Registry Editor to Correct the ploblem…., đề cử này thường được đặt cuối cùng)

    Sau khi bạn sửa xong một vấn đề, ô bên phải sẽ có một dấu hình chữ “V” cùng dòng Fixed dưới nó. Điều này giúp bạn đánh dấu các vấn đề đã được sửa chữa.

    Nếu sau khi sửa chữa, khởi động lại máy, thấy có vấn dề thì bạn có thể backup trở lại theo bước đã giới thiệu ở trên, tuy nhiên theo kinh nghiệm của tôi thì qua hơn một năm sử dụng NSW, chưa có một lỗi nào nghiêm trọng do nó gây ra.

    Mọi vấn đề mà NWD sửa chữa đều được lưu lại, một ngày nào đó nó trở lên quá lớn và làm tốn ổ đĩa của bạn. Đã một tuần hay một tháng trôi qua kể từ ngày bạn sửa chữa bằng NWD lần cuối cùng, nếu bạn không gặp một vấn đề gì thì có lẽ bạn có thể xoá phần lưu đó. Việc xoá này cũng có ích khi không làm rối mắt bạn trong những lần có thể backup lại kế tiếp. Mặt khác, bạn có thể hiểu rằng: khi mà NWD phát hiện ra vấn đề lần thứ nhất, thì nó cũng có thể phát hiện ra vấn đề đó ở lần kiểm tra tiếp theo. Khi muốn xoá, trong Tab Problem, thả xuống bấm vào Clear Repair History, NWD sẽ hỏi bạn có chắc không, bấm YES, thế là bạn hoàn thành quá trình xoá.

Rescue Disk là một tính năng mà bạn sẽ thấy cần thiết khi một ngày nào đó máy tính của bạn bị nhiễm virus nặng hoặc chỉ đơn giản là không thể khởi động được Windows. Không những thế, nó còn giúp bạn backup lại tình trạng thiết đặt Cmos của bạn.
Theo đúng nghĩa của nó, Rescue sẽ giải cứu cho hệ thống của bạn bằng cách sao lưu Boot Record, Partition Table, Cmos Information, ngoài ra còn có thể sẵn sàng cho việc format, unfomat ổ cứng, quét virus…(trong trường hợp phần này tôi giả thiết rằng bạn cài cả NU lẫn NAV, bởi khi cài NAV, trong Rescue sẽ có các file VIRSCANX.DAT chứa dữ liệu cùng file chạy NAV để có thể quét virus ngoài DOS)

    Để sử dụng được các chức năng này bạn phải tạo các đĩa mềm Rescue. Chạy ct Rescue, bạn cần chuẩn bị 7 đĩa mềm (hoặc ít hơn nếu không cài NAV) với đảm bảo rằng các đĩa này còn sử dụng tốt. Nếu đĩa chưa format lại, bạn có thể thiết đặt kiểu format bằng cách vào Options chọn Format Settings, ở đây bạn có thể chọn Full (format vật lý đĩa mền, định dạng lại), Quick (Đơn thuần xoá các file đã tồn tại trên đĩa mềm) hoặc No Format, (trong trường hợp này bạn phải format đĩa rừ đầu hoặc bạn mới mua đĩa đã được format). Cũng trong Options, phần Rescue files, bạn có thể thêm hoặc bớt các file vào đĩa mềm cứu hộ mà bạn cho rằng cần thiết (ví dụ thêm các file: cơ bản của NC để có thể sử dụng ngoài DOS, thêm smartdrv.exe để có thể tạo cache ổ cứng…) tuy nhiên việc thêm file này phải giới hạn trong khoảng trống đĩa mềm cho phép, mặt khác phải biết thêm vào đĩa nào trong số 7 đĩa trên. Bạn thực hiện theo yêu cầu của RD khi nó hỏi (bỏ đĩa nọ ra, ghi nhãn, cho đĩa khác vào…) để hoàn thành quá trình dài dòng trên.

    Bây giờ bạn đã có đủ bộ RD, đừng nghĩ rằng thế là xong. Mỗi khi thay đổi lớn đến đĩa cứng (chạy Speed Disk hoặc Disk Defragmenter) hoặc bạn cập nhật cơ sỏ dữ liệu cho NAV thì bạn cũng nên cập nhật cho đĩa cứu hộ của bạn.

    Sử dụng đĩa cứu hộ như thế nào khi có nó ?. Trong trường hợp bạn không thể khởi động được Win do virus phá, hoặc khởi động được nhưng cũng chậm như rùa do virus ăn hết bộ nhớ (lúc này mà quét virus thì cũng bằng thừa), hoặc virus nhiễm vào boot mà không thể diệt được bằng bất cứ ct diệt nào bạn có, hay virus đã format một ổ nào đó của bạn, hay đơn giản là bạn quên password BIOS rồi tháo pin CMOS ra lại không nhớ lại các thiết đặt cũ trong BIOS của bạn. Lúc này RD sẽ ra tay nếu bạn còn giữ an toàn dữ liệu cho các đĩa đó. Sau khi Clear CMOS, BIOS sẽ trở lại thiết đặt mặc định an toàn (chỉ trong điều kiện bạn vừa Clear CMOS do quên pass thôi, xin đừng hiểu rằng cứ chạy RD là phải Clear CMOS) và thường có thiết đặt khởi động theo thứ tự: A/HDD/CDROOM (nếu không, bạn setup Bios theo thứ tự trên), bạn sử dụng đĩa số 1 có nhãn “Basic Rescue Boot Floppy Files” để khởi động. Sau khi khởi động bằng đĩa 1, bạn có thể làm theo hướng dẫn của RD. Việc sử dụng đĩa cứu hộ phải được bạn làm thành thạo khi tập dượt trước (đến lúc “bị” rồi thì không thể vào Win để đọc các hướng dẫn sửa chữa đâu), trong khi tập dượt, không nên cho hiệu lực bất cứ một điều gì (có nghĩa rằng bạn chỉ cần vào được ct, nhìn thấy nó giao diện như thế nào, có nút gì để sau này khỏi bỡ ngỡ, sau đó thoát khỏi ct ngay) kẻo lợn lành thành què, lại đổ tội cho tôi.

    Một các trong phần của RD là Rescue hệ thống (gồm CMOS, Boot, Partition) được trình bày như hình bên (chạy trong DOS ảo để demo cho bạn, không được thử như vậy !!!). Trong trường hợp này, bạn có thể Restore lại CMOS, Boot Records, Partition Table nếu bạn kiểm vào ô trong Items to Restore và bấm nút Restore (lưu ý rằng đường dẫn trong ví dụ Demo trên không đúng với đường dẫn của bạn).

    Ngoài ra dùng đĩa RD còn có thể còn sử dụng một số tính năng khác mà ta đã qua quen thuộc: format, unformat, Fdisk, NDD for DOS, Unerase, SYS…mà ta có thể dùng để khôi phục hệ thống dễ dàng - với điều kiện bạn phải có một chút kiến thức và thao tác ngoài DOS (nếu không nhớ lệnh trong DOS, có thể tự tạo một đĩa có chứa các file cơ bản của NC).

Image Là một tính năng có lẽ không cần thiết với bạn, nhưng nó lại rất có ý nghĩa cho các chương trình khác hoạt động. Image theo đúng ý nghĩa của nó là chụp ảnh ổ đĩa cứng của bạn thành một file Image.dat, file này chỉ được dùng cho các tiện ích khác của NU nhằm làm cho NU giao tiếp với đĩa cứng nhanh hơn. Mặt khác bạn có thể dùng Norton Unerase Wizard để khôi phục một file đã lỡ xoá một cách triệt để hơn, nhất là đối với các đĩa bị phân mảnh quá nhiều.

    Như vậy để NU hoạt động hiệu quả, bạn nên thường xuyên chạy Image, nếu bạn không thấy khó chịu khi phải chờ chút xíu, bạn có thể thiết đặt cho nó chạy thường xuyên mỗi lần khi Windows khởi động.

Speed Disk là tính năng thay thế triệt để tiện ích Disk Defragmenter của Windows, nó nhanh hơn rất nhiều và có thể hoàn hảo hơn. Mặt khác chính Defrag của Win cũng lấy công nghệ của Symantec, như chính lời giới thiệu của nó xuất hiện khi chạy lần đầu.

    Giao diện của NSD khá bắt mắt với sự sắp xếp từng loại file theo từng màu riêng biệt. Các tuỳ chọn của nó dễ dàng cho bạn lựa chọn chế độ làm viêc:

    Unfragment Files Only cho phép bạn chỉ chống phân mảnh đĩa đơn thuần mà không quan tâm đến khoảng trống của đĩa hiện tại như thế nào.

    Unfragment Free Space chỉ quan tâm đến đặt đĩa sao cho tất cả các file có trên đĩa ở phía trên, khoảng trống không dùng của đĩa ở phía dưới, mà không quan tâm đến file bị phân mảnh như thế nào (điều này có lẽ chỉ thích hợp cho ổ đĩa lưu trữ, không chứa các file hệ thống, file chạy cũng như hoạt động của ct mà - cần chép một lượng dữ liệu mới lên đó thì lượng dữ liệu copy sau này sẽ không bị phân mảnh). Ưu tiên hàng đầu và được đề cử là Full Optimization, là sự kết hợp giữa hai kiểu trên: File chạy được chống phân mảnh và đặt lên gần phía trên mà kim từ của đĩa dễ truy cập nhất, các file được dồn lên trên kết hợp chống phân mảnh để dành phần đĩa trống phía dưới cho các file có thể có sau này không bị phân mảnh nữa (do có một khoảng trống rất dài phía dưới). Tuỳ chọn này còn hay ở chỗ: Speed Disk theo giõi sự truy cập của từng file trong từng lần khởi động của Windows hay chạy các ứng dụng khác nhau - để đặt lên phía vùng trên của ổ đĩa. Như vậy một file không được sử dụng bao giờ thì sau vài lần chạy NSD sẽ bị đẩy xuống vùng cuối của ổ đĩa. Mặt khác, nó còn luôn đặt file hoán đổi (Win386.swp) của Windows lên vị trí đầu tiên, thuận lợi cho việc truy cập file này (nếu bộ nhớ ít hoặc chạy ct dùng nhiều bộ nhớ thì file này phải ghi/đọc nhiều nhất)

    Lưu ý rằng NSD, hay NDD hoặc bất cứ tiện ích nào trong Win9X đề không nhận ra phân vùng NTFS, nên bạn không thể thấy chúng trên bảng lựa chọn ổ (Select Drive(s))

Norton System Check là một công cụ kiểm tra hệ thống tổng hợp, nó là sự kết hợp của NWD và NDD. Để kiểm tra hệ thống bạn chỉ cần dùng một chức năng này. Tuy nhiên chắc chắn rằng nó sẽ không chi tiết bằng kiểm tra, sửa chữa bằng cả hai tiện ích trên kế tiếp nhau. Ngoài ra NSC còn cảnh báo cho bạn về việc chạy các tiện ích trên giúp hệ thống hoạt động tốt hơn (ví dụ: Image, Rescue, khoảng trống trong đĩa còn quá ít, đĩa nào cần chạy Speed Disk…) trong phần Problem của nó (phần này giống y chang của NWD).

Norton System Doctor có icon giống như một cột đèn giao thông, nói lên tính năng của nó. Tiện ích này khi chạy thường trực trong máy bạn sẽ dùng chính các tiện ích trên để kiểm tra hệ thống và đưa ra cảnh báo lỗi dưới dạng đèn, nếu nó màu xanh thì không vấn đề gì, nếu nó màu đỏ thì đã xuất hiện ít nhất một lỗi, qua đó bạn có thể lỗi nó thuộc tiện ích nào trong NU để sửa. Cũng có thể dùng nó để mở các tiện ích khác sửa ngay vấn đề. Nó cũng thiết đặt khá nhiều cho mục theo giõi bạn lựa chọn (hay hơn dùng System Monitor mà bạn nào quen dùng để theo giõi, phân tích hệ thống) ở trong mục Sensers. Đây đúng là một công cụ mạnh cho người phân tích hệ thống chuyên nghiệp (có tổng cộng 35 sensors khác nhau cho biết 35 tình trạng của hệ thống từ bộ nhớ, đĩa, mạng,…). Trong hình ảnh minh hoạ bên, ta thấy rất nhiều thứ mà nó theo giõi được (phần khay đồng hồ được dán vào hình để demo cho việc nó báo có lỗi tìm thấy khi chạy test với Windoctor)

Norton Registry Tracker là một tiện ích theo giõi sự thay đổi của Registry mà bình thường ít ai quan tâm đến tiện ích này. Tuy nhiên việc bạn đang làm việc với registry thì bạn nên sử dụng tới nó bởi nó theo giõi mọi quá trình thay đổi của registry và thông báo đến người sử dụng từng sự thay đổi nhỏ (vậy cũng tương tự như một sự sao lưu reg, bởi qua nó mà bạn có thể sửa lại reg đúng thời điểm trước đó khi nó hoạt động - với điều kiện bạn vào được Win). Bạn là người thông minh, và bạn thấy rằng không chỉ giúp ta theo giõi khi đang “nghịch ngợm” với Reg, mà nó còn giúp ta làm nhiều vấn đề mà đang làm đau đầu các hãng viết phần mềm hiện nay. NRT sẽ ghi lại những dữ liệu sau quá trình làm việc của nó để có thể so sánh cho lần làm việc kế tiếp.

Norton Registry Editor là tiện ích đáng được quan tâm khi bạn làm việc với Registry. Không quá đơn giản như regedit của Windows, bạn sẽ được dùng một tiện ích được trang bị đầy đủ những tính năng mà bạn cần, kết hợp với Norton Registry Tracker, bạn sẽ có một bộ công cụ mạnh được chuyên môn hoá cao.

Norton Optimization Wizard là một công cụ tối ưu hoá hệ thống rất đáng để xem xét. Hoạt động chủ yếu bằng sự tối ưu hoá Registry của Windows và thiết đặt lại kích thước bộ nhớ ảo (Virtual Memory).

Symantec có một quan điểm khác với chúng ta, không đặt “Let Windows manage my virtual memory settings” mà lại thiết đặt “ Let my specify my own virtual memory setting” và đặt kích thước bộ nhớ ảo lên khá lớn (nếu bạn có 64M vật lý thì file win386.swp lớn 96M, có 128 thì 128…). Sau khi cố định kích thước file hoán đổi, NOW đưa file này từ thư mục Windows ra thư mục gốc, kết hợp với Speed Disk để đưa file này lên vùng đầu của ổ đĩa. Việc này rất hay, kích thước files win386.swp được cố định ở mức nhỏ nhất lớn hơn nên nó ít còn bị thay đổi kích thước nữa, do đó nó sẽ không còn bị phân mảnh nhiều trong quá trình làm việc của Windows. Như vậy, sau khi chạy NOW, thiết đặt quản lý bộ nhớ ảo bị thay đổi, bạn không nên thay đổi lại nó khi nó đã được tối ưu.

NOW khi chạy lần đầu sẽ Benchmark tốc độ, chế độ làm việc của ổ đĩa, sau đó nó đưa ra một chế độ làm việc tối ưu cho NU thích hợp với ổ đĩa của bạn. Tiếp theo, NOW sẽ đưa ra đề cử bạn thiết đặt lại file hoán đổi bộ nhớ ảo, bạn có thể chấp nhận hoặc không bằng một dấu tích đề cử. Sau đó NOW lại đưa ra đề nghị bạn chấp nhận việc tối ưu hoá Restry của Win. Nếu một trong số các yêu cầu được chấp nhận thì NOW sẽ bất đầu tiến hành quá trình làm việc của mình sau khi bạn chấp nhận Reboot trong một phím nhỏ.

Norton Diagnostics Là một chức năng kiểm tra, test phần cứng thuộc loại trung bình kém, có lẽ Symantec đã quá tham vọng trong việc nhảy vào lĩnh vực “phần cứng” trong khi kinh nghiệm chưa nhiều. Không dám so sánh với các ct khác, ta xem xét khả năng hoạt động của ND, như hình minh hoạ bên. ND cho phép bạn kiểm tra toàn bộ bằng một công cụ duy nhất: Do All Tests, ngoài ra cũng có thể kiểm tra từng mục riêng biệt một cách chi tiết bằng cách bấm chọ vào mục cần test bên trái rồi bấm “Test” bên phải hoặc làm theo yêu cần của nó. CD Room, sẽ kiểm tra ổ CD của bạn, và chỉ đưa ra thông báo: CDROM Test Passed, mà không chi tiết. Keyboard và Keypad chỉ đơn thuần xem bạn có liệt phím nào không. Memory có vẻ chi tiết kỹ lưỡng hơn khi ghi thử vào toàn bộ Ram của bạn xem có phần nào không hồi đáp đúng giá trị nó ghi không. Và chỉ đưa ra một dòng “Passed” khi không vấn đề gì. Sound Card có thể kiểm tra cả hệ thống 4 loa mà bạn có xem có ra tiếng hay không. Video hiển thị một số hình ảnh màu hoặc ô - rất hay cho bạn kiểm tra xem monitor của bạn có bị nhiễm từ, lệch từ ống tia phóng điện tử bên trong hay không (bạn thử kiểm tra máy của bạn ở chức năng này, nhất là khi lại thường đặt một cặp loa kém chất lượng bên cạnh monitor, bởi các loa kém thường không có tấm chắn từ nên rất hay làm nhiễm từ vào màn hình). Các phần test khác cũng tương tự, không có gì đặc sắc, ngoại trừ ở một số bản bạn gặp thông báo Failed khi test chuột nên đừng hoảng khi gặp thông báo này. Vậy với tư cách cá nhân, tôi khuyến cáo rằng, nếu cần test phần cứng thì bạn nên tìm một phần mềm khác.

System Information chỉ đưa ra cấu hình system của bạn, không thể test cũng như sửa chữa gì, nhưng cũng khá hữu hiệu cho bạn tìm hiểu hệ thống, nhưng lại không là một công cụ mạnh. SI có một tính năng Benchmark máy của bạn theo một cách riêng, không sử dụng đến phần mềm mà dựa theo tốc độ chip, bus…nói chung cũng không nổi tiếng trên thế giới nên không được coi là một chuẩn để test khả năng máy. SI cũng cho biết chính xác cấu hình máy của bạn nhưng những điều này lại có thể biết bằng một chức năng cùng tên của Windows. Memory của SI cho bạn biết lượng bộ nhớ hệ thống (vật lý cũng như ảo) còn trống, đặc biệt hơn là nó cho biết tất cả các file nào đang được nạp trong bộ nhớ và dung lượng chiếm của nó trong bộ nhớ hiện tại (cùng toàn bộ các thư viện *.dll đang được nạp). Điều này rất có ích cho việc theo giõi hoạt động của các phần mềm cũng như chuẩn đoán virus.
SI có thể gặp trục trặc (treo cứng máy) đối với các hệ thống chậm (máy của tôi dùng chip PII350, vào chức năng này thì thường là bị treo, để có được ảnh demo trên phải khởi động lại ba lần nó mới chịu làm việc, nhưng khi Overlock lên 392, 410, 434, 466MHz thì không hề bị treo lần nào), điều này sảy ra ở cả phiên bản NSW 2000 và 2001. Mặt khác, nó không thể nhận biết phần cứng khi bị Disable trong Bios (ví dụ nó không thấy các cổng ngoại vi của tôi).

Unerase Wizard Có tính năng hồi phục các file đã lỡ xoá (khỏi cả thùng rác luôn). Ta biết rằng nguyên lý của việc xoá một file trong Windows là xoá các ký tự đầu tiên của tên file, vệc mất các ký tự đầu tiên này trong đĩa có thể cho Explorer hay các ct khác có thể ghi một file mới đè vào vị trí file cũ đã xoá. Dựa trên nguyên lý này mà UW có thể khôi phục các file lỡ xoá với tình trạng hồi phục là không biết các ký tự đầu tiên của tên file (với chúng ta việc khôi phục được như thế là đủ, chắc là ta nhớ tên file mình cần).

    UW can thiệp vào thùng rác của bạn, sau khi cài đặt xong NU, thùng rác của bạn được đổi tên thành “Norton Protection Recycle Bin”. Nếu không thích tên này, bạn có thể thay đổi tên nó thành tên ban đầu hoặc một cái tên khác mà không ngại đến trục trặc hệ thống, cũng không cần sửa tên trong registry bằng cách chuột phải vào Recycle Bin, chọn Properties, trong tab Recycle Bin, phần Appearance, Tile: đổi thành tên gì bạn thích. Bây giờ, bạn có thể đúp chuột vào Recycle và thấy không như thùng rác bình thường nữa, đó chính là bạn khởi động UW (bởi Symantec nghĩ rằng bạn mở thùng rác là bạn muốn tìm lại những file đã xoá nên thiết đặt mặc định này, nhưng đôi khi việc này không cần thiết với ta, vậy…) muốn bỏ thiết đặt nạy, bạn có thể chọn kiểm trong mục Double Clicking Item opens ở dòng Standard Recycle Bin trong cùng tab đã nói trên.

    UW cũng thiết đặt mặc định là luôn lưu những ký tự đầu trong một đã xoá để quá trình phục hồi file này được triệt để (tên file đầy đủ khi phục hồi), mặt khác nó cũng giữ luôn khoảng trống tạo ta trên đĩa mà file đã xoá giải phóng mà không cho phép ghi vào đó. Việc này làm cho đĩa cứng của bạn ngày càng chật hẹp sau mỗi lần khởi động (bởi khi khởi động Win phải ghi và xoá rất nhiều file), nhất là sau khi cài đặt (giữ luôn cả file tạm tạo ra trong quá trình cài đặt ct) hoặc gỡ cài (giữ luôn cả ct). Muốn loại bỏ chức này, bạn vào tab Norton Protection, trong phần system settings, bấm vào nút Empty Protected Files để loại bỏ toàn bộ số file được bảo vệ, sau đó bấm vào nút Remove Norton Protection, từ đây thùng rác của bạn lại như khi chưa cài NU. UW hoạt động tốt hơn khi bạn chạy Image thường xuyên.

Norton WipeInfor chính là kẻ thù không đội trời chung của UW, công việc nó làm là không cho dùng bất cứ một ct gì kể cả UW khôi phục lại file đã xoá. Bạn có biết rằng mỗi đĩa mềm sau khi sử dụng của Bộ quốc phòng Mỹ được xoá toàn bộ dữ liệu chứa trên nó bao nhiêu lần không ? câu trả lời là 15 (xoá đi xoá lại 15 lần), như vậy không thể còn khả năng khôi phục lại dữ liệu nữa, vẫn chưa yên tâm, đĩa đó phải được nghiền thành nhiều mảnh nhỏ. Norton WipeInfor có lẽ phục vụ cho BQP Mỹ rất tốt trong việc xoá an toàn dữ liệu trên đĩa mềm cũng như đĩa cứng, còn chúng ta, chắc chẳng quan tâm. Nhưng chỉ quan tâm rằng khi lỡ cài tiện ích này, bạn không lên lỡ chuột phải vào một file quan trọng nào đó mà Send To tới NW.

Norton File Compare có biểu tượng hình một chiếc cân tiểu ly, thì đúng thật là nó dùng để so sánh sự khác nhau giữa các file không quá lớn. Mục đích chính của NFC là so sánh các file Text, INI hay HTML với kích thước không quá lớn khi ta cần sửa đổi các file này. Trong ví dụ minh hoạ demo bên, bạn có thể thấy rất rõ sự thay đổi của 2 file win.ini trong hai thư mục khác nhau (chính là một file trong hai thời điểm khác ngày nhau). Qua đó bạn dễ dàng sửa đổi bằng Notepad (bằng cách bấm Ctrl-E), tìm kiếm (F3)…

NU với Windows 2000

    Windows 2000 được xây dựng trên nền tảng hạt nhân NT (có thể nói nó là NT5), sử dụng đĩa theo định dạng TNFS (NT Files System), đảm bảo cho tính bảo mật cao trong môi trường mạng, do đó việc can thiệp vật lý đến đĩa là một điều rất khó. Mặt khác cấu trúc NT rất phức tạp, do phải đảm bảo cho tính an toàn cao, nên sự can thiệp thay đổi về phần mềm với nó cũng là điều khó khăn.

    Norton System Works dùng cho NT4/2000 có vẻ khác so vớicho Win9X. Một số phần được viết lại hoàn toàn cho phù hợp với HDH khác biệt, một số lại giữ nguyên, dùng cùng một số file chạy và các thư viện liên kết động.

    Norton Utilities nằm trong trường hợp hầu như giữ nguyên cấu trúc (so với NAV là thay dổi hoàn toàn, thư mục cài đặt khác biệt và được đặt riêng). Nếu bạn cài kép hai HDH: 9X và NT thì hai thư mục của nó có thể có đến 80% số file giống hệt nhau. Chính vì cùng dùng chung bộ cài, nên NU sẽ mất một số tính năng khi cài đặt trong WinNT, điều này có nhiều nguyên nhân: NT không cần thiết đến tính năng đó hoặc Symantec không viết được tính năng đó cho NT.

    Như vậy, với riêng NU, khi cài đặt trên Win2000 Pro, sẽ bị mất đi các tiện ích sau (so với các đề mục trên): Rescue Disk, Image, Norton System Check, Norton Registry Editor, Norton Registry Tracker, Norton Optimization Wizard, Norton Diagnostics, Norton WipeInfor, Norton File Compare.

    Các tiện ích còn lại cũng có sự thay đổi từ ít đến rất nhiều do phải viết lại cho phù hợp. Sự thay đổi này thường là bỏ đi một số tính năng so với Win9X.

    Norton WinDoctor không thay đổi so với dùng cho Win9X, các nút giao diện vẫn giữ nguyên, hầu như làm việc theo nguyên tắc giống như cũ.

    Norton Disk Doctor có thay đổi về các chức năng, loại bỏ Serface Test và Advanced trong Options. Cơ chế làm việc cũng khác, và có vẻ chậm hơn do phải làm việc với bảng NTFS, còn với bảng FAT hoặc FAT32 thì nó sẽ hiện thông báo như hình bên, nói rằng…

    Norton System Doctor có vẻ giống như dùng cho 9X, tất nhiên là sensors của nó sẽ ít đi (24 so với 35) nhưng vẫn đủ cho những gì ta quan tâm.

    Speed disk có thể sẽ hiện thông báo rằng phiên bản của bạn không phù hợ với nó, và nó liệt kê các phiên bản nó hỗ trợ (như trong phần cắt nhỏ ở hình minh hoạ), điều này cũng sảy ra trong trường hợp bạn thay đổi phiên bản trong registry bởi SD đọc thông tin này từ registry. Nó cũng hiện thông báo khi bạn muốn chạy speed disk với bảng FAT32 (hoặc FAT). Như vậy phiên bản này có cấu trúc hoàn toàn khác với phiên bản cho Win9X, nó sẽ không dùng chung các file với trong bộ cài. ở phiên bản này bạn có thể có nhiều tuỳ biến hơn, chẳng hạn có phần Schedule Options sẽ cho phép bạn chạy SD trong một thời gian rảnh rỗi định sẵn, hay Analysis được đặt ra ngoài cho phép bạn dễ dàng quyết định có chạy SD không khi biết các file phân mảnh có thể không thường hay được truy cập.

Thời điểm này (06/2001) Microsoft đã đưa ra bản Sevice Pack 2 cho Win2000, nếu bạn đã dùng nó để Update thì SD sẽ thông báo như trên, bạn cứ vô tư mà bấm OK cho nó chạy, bởi tôi đã thử nghiệm với điều này 3, 4 lần mà không hề gặp một trục trặc nào.
System Information có vẻ tương tự như trong Win9X, tất nhiên là nó sẽ cho biết hệ thống làm việc với WinNT, điều thiếu ở SI trong trường hợp này là khả năng Benchmark, nhưng có lẽ ta không cần thiết. (chạy trên Win2000, bạn không còn bị treo máy đối với các máy chậm nữa)

Nói chung khi bạn đã quen với NU trong Win9X thì bạn cũng sẽ dễ dàng làm việc với nó ở WinNT.

Lời kết: NU thực sự cần thiết với bạn khi muốn làm chủ máy tính của mình, bạn nên có một bộ NU hoặc tổng thể hơn là bộ Norton SystemWorks của Symantec trong máy tính của bạn. Với bộ này, bạn có thể giải quyết được trên 50% số lỗi do phần mềm gây ra với một kiến thức trung bình, có thể trên 80% nếu bạn có kiến thức cao hơn. Hãy trở thành một chuyên gia với Norton SystemWorks !!!.

Trên đây là các kinh nghiệm của tôi khi sử dụng NU, bạn có thế khám phá nhiều hơn thế. Với NSW, tôi có thể sẽ có từng bài viết độc lập về từng phần trong bộ này sau mùa hè này nếu chưa có một bài viết có nội dung tương tự.

Các hình ảnh minh hoạ trong bài viết có thể không đúng với máy bạn, có thể không cần chúng khi đọc từ Website vì mất thời gian nếu đường truyền chậm. Bài viết này phục vụ đắc lực cho một bài viết dài khác cùng tác giả với tựa đề “Windows ME sau một năm sử dụng” sẽ có trong cuối tháng 7.

Trương Mạnh An - Đại học Bách Khoa Hà nội.
----------------------------------------------------
(® Có thể sử dụng bài viết cho mọi mục đích về học tập, chỉ được phép sửa đổi, bổ xung bài viết cho đúng thêm hoặc có thể cắt đi những nội dung rườm rà - nên mail cho tác giả tại antm75@yahoo.com , không được gây nhiễm virus vào file có chứa nội dung bài viết này để truyền bá – xin giữ lại dòng này trong trường hợp truyền bá dưới dạng file)


PcLeHoan 1996 - 2002
Mirror : http://www.pclehoan.com
Mirror : http://www.lehoanpc.net

Mirror : http://www.ktlehoan.com