Norton CleanSweep
An toàn là trên hết
From: Trương Mạnh An - DHBK HN; Mailto:antm75@yahoo.com
Norton CleanSweep (NCS) nằm trong bộ Norton SystemWorks của Sysmantec có ở các phiên bản 2001 hay 2000 là một tiện ích theo đúng tên gọi của nó là dọn dẹp hệ thống sạch sẽ khỏi những rác rưởi trong Windows mà càng ngày càng lớn. Không những thế, nó còn nhiều tính năng khác mà bất cứ chương trình nào cùng chức năng đều không thể có được.
NCS có mạnh không, có thể so sánh được với Norton Utilities không ? thì tôi có thể nói rằng nó mạnh và an toàn. Xin lưu ý tôi dùng từ “mạnh” chứ không phải “rất mạnh” như có thể nói, bởi vì tôi có biết một vài tiện ích khác có khả năng loại bỏ rác rưởi trong Windows cũng như registry rất mạnh, tuy nhiên đi kèm theo nó là sự không an toàn của hệ thống do nó quét đi quá nhiều, đôi khi “quét” cả những gì còn cần dùng đến, dẫn đến trục trặc hệ thống. NCS có khả năng an toàn rất cao, cũng như mọi chương trình khác của Symantec nó có khả năng backup những gì nó đã thay đổi đến hệ thống.
NCS có thể theo dõi quá trình cài đặt để sau này có thể gỡ bỏ nó một cách triệt để nhất. Trong quá trình cài đặt chương trình, bất kỳ hành vi nào, cũng được NCS ghi nhận lại vào một tập tin nào đó của nó (ghi file vào đĩa, thêm khoá vào Registry…), vì vậy trong quá trình gỡ bỏ chương trình đó, nó chỉ việc làm ngược lại, và máy của chúng ta có thể trở về trạng thái như chưa hề đã từng cài đặt ct này bao giờ. Không những thế, NCS còn có thể tự động dò tìm và gỡ bỏ các ct khác trước khi NCS được cài đặt (hoặc bạn tắt chức năng theo dõi của nó), với nguyên tắc phân tích - dò tìm khi ct này hoạt động (trước đây tôi đã dùng NCS2000 gỡ bỏ hoàn toàn ABC1.0 khá hiệu quả khi ABC1.0 không có tên trong liệt kê danh sách Add/Remove…).
Cài đặt
Việc cài đặt NCW rất đơn giản và không mất nhiều thời gian như những phần khác trong bộ Norton SystemWorks, có lẽ bởi dung lượng bộ cài nhỏ (khoảng 12MB, cài đặt xong còn khoảng 9,6MB trong thư mục làm việc). Trong thư mục chứa bộ cài, chạy file setup.exe sau đó nó sẽ tiến hành với vài lựa chọn, bạn sẽ được hỏi rằng có cho phép Smart Sweep/Internet Sweep chạy khi khởi động không, hay có tạo Sortcut của một số phần của nó trên Desktop không (những điều này thường không quan trọng lắm vì có thể thay đổi về sau được), sau đó nó sẽ tự động cài đặt phần LiveReg, LiveUpdate của riêng Symantec, nếu quá trình cài đặt này thành công thì nó mới tiếp tục cài đặt NCS.
Đến đây bạn có thể thắc mắc, tại sao trong bất cứ ứng dụng nào của bộ NSW, dù cài riêng lẻ hay cài trọn bộ đều phải cài đặt hai thành phần này (LiveReg, LiveUpdate), nếu cài trọn bộ thì chỉ cần cài chung một lần, còn nếu cài riêng lẻ từng tiện ích thì lại phải cài lại chúng cho từng phần. LiveReg phục vụ cho việc đăng ký trực tiếp phần mềm đó với Website chính của Symantec, phần này không thể gỡ bỏ trong máy bạn bằng cách gỡ trong Add/Remove Program được (dù có tên cả hai). LiveUpdate dùng cho việc update các phần trong bộ NSW cho kịp thời sửa chữa những vấn đề nảy sinh sau khi phát hành chính thức phần mềm đó, hoặc bổ xung khi phiên bản Windows được cập nhật, bạn có thể loại bỏ chức năng này bằng cách trên (nếu không dùng được tính năng này khi thử nó, nếu tên bạn đã có trong danh sách khách hàng của Symantec thì không nên gỡ bỏ nó).
Sử dụng
Giao diện sử dụng của NCS rất đẹp, có vẻ đổi mới trong bản 2001, có các phần chính trong một cột lựa chọn theo chiều dọc ở bên trái, bao gồm: Clean Up, Internet, Programs, Advance. Phía bên trên có Live Update và Options có thể kích hoạt bằng click chuột vào đó.

Trước hết, tôi xin giải thích về chức năng Smart Sweep/Internet Sweep. Như đã nói ở trên về việc theo dõi cài đặt, thì đây chính là phần đó, bạn có thể cho SSIS khởi động theo Windows hoặc tắt tính năng này ngay từ khi cài đặt. Để có quyết định hiệu quả về việc này, xin đọc Readme của NCS hoặc đọc tiếp những phần sau. Bây giờ, ta có thể xem khả năng mà NCS có thể làm những gì theo những mục mà nó trình bày bên trái.
1. CleanUp
Thấy có ba lựa chọn cho bạn: Uninstall Wizard, Fast & Safe Cleanup và Restore Wizard.
Uninstall Wizard cho phép bạn gỡ bỏ một chương trình nào đó không còn dùng đến. Cách gỡ bỏ này đề cử sử dụng khi trong Add/Remove programs không có tên chương trình cần Uninstall, bởi khi xuất hiện tên này trong nục trên, có nghĩa rằng, người viết chương trình đã tính đến khả năng gỡ bỏ nó sau này của người sử dụng nên sẽ biết chi tiết hơn về ct của mình ghi vào những gì thì gỡ ra như thế. Trên thực tế, việc uninstall một ct rất phức tạp, bị ngăn cản bởi HDH khá nhiều do nó cố giữ tính ổn định cho mình.
Nhân đây cũng nói ra ngoài lề bài viết một chút. Nhiều bạn có một cách uninstall các ct không dùng đến rất phi khoa học, chỉ tìm thư mục cài đặt rồi xoá bỏ nó đi. Cách này có thể giải phóng chút ít về không gian đĩa, nhưng hiệu quả chẳng đáng kể khi mà Windows vẫn cứ tưởng rằng ct này vẫn đang tồn tại và luôn chuẩn bị sẵn sàng cho nó có thể hoạt động bằng cách nạp các thư viện dành cho mỗi nó. Ta biết rằng các ct 32bit thường có đăng ký của nó trong Registry của Windows để có chế độ làm việc hợp lý, khi uninstall bằng cách xoá bỏ thì tất cả đăng ký trong Registry vẫn tồn tại, và registry một ngày nào đó sẽ trở thành một đống rác khổng lồ của những tàn dư vụn vặt, kích thước lớn lên và Win sẽ hoạt động chậm đi một cách kinh khủng. Như vậy khi mà bạn không dùng đến một ct nào đó mà muốn gỡ bỏ nó thì phải gỡ cho đúng cách (ngoại trừ các ứng dụng 16bit chạy trong nền DOS ảo có thể vô tư xoá). Đúng cách là thế nào, như hướng dẫn trên, nếu không có tên trong Add/Remove Programs, thì dùng tiện ích này (NCS).
NCS hoạt động trên 2 cách:

1-Các ct khi cài đặt đã được nó theo dõi, như vậy việc gỡ bỏ trở nên đơn giản và hiệu quả chính xác. Các ct này thường được đặt ở trên cùng theo một bảng liệt kê cùng thông tin về ngày mà nó được cài đặt (phía trên dòng Start Menu)
2-Với các ct nó không được theo dõi (thường bạn chọn nó trong Start Menu/Programs) thì nó sẽ “Analyzing Program…” một lát xem hoạt động của ct thế nào rồi đưa ra cách gỡ bỏ (vệc phân tích này kéo dài từ vài giây đến vài phút, tuỳ theo quy mô từng ct). Sau quá trình phân tích, bạn sẽ được thông báo về đường dẫn của thư mục chứa các file Backup, nếu không thích thư mục này thì bạn có thể thay đổi bằng cách bấm nút “…” ở bên cạnh, nếu chấp nhận bạn bấm Next, nó hỏi có muốn xác nhận từng mục cần xoá không (mặc định là không), tiếp theo bạn có thể bấm Next. Đến đây có thể bấm “View..” để xem các mục sẽ thay đổi như thế nào trong quá trình gỡ bỏ, (xoá hay không, backup hay không..), bạn có thể bỏ dấu kiểm trong các ô màu xanh để có thể không thực hiện một mục nào đó, chấp nhận bằng nút OK. Sau khi quyết định lần cuối, bạn bấm Finish để hoàn thành. Trong ví dụ minh hoạ trên, tôi thử cho nó phân tích việc gỡ bỏ ct Photoshop 6, sau khi phân tích, đến mục cuối cùng, tôi bấm View thì thấy có đến 205 mục có thể xoá được trên 246 mục liên quan đến quá trình gỡ bỏ, các mục này rất chi tiết đến từng khoá trong registry của Win. Cuối cùng của quá trình, khi bạn bấm nút Summary sẽ nhận được thông báo các việc nó làm rất chi tiết. Một minh hoạ khác về cách gỡ bỏ game HEARTS của Microsoft đã được tích hợp với Windows (không có trong Add/Remove..), đây là một ct game đơn giản không có đăng ký với Registry nên minh hoạ này không thể hiện hết khả năng của Uninstall Wizard.
Trong trường hợp bạn muốn gỡ bỏ một ct lại không có Shortcut trong Menu Start, bạn có thể bấm Search…Sau đó Uninstall Wizard sẽ đưa ra một loạt các danh sách các ct dưới dạng một file chạy (exe), ở đây bạn cũng có thể để cho nó phân tích rồi đưa ra cách Uninstall, danh sách này rất dài và dễ gây nhầm lẫn bởi các tên file chạy không nói lên được ý nghĩa sử dụng của nó, mặt khác một ct thường dùng nhiều file chạy nên việc bạn chọn cả một folder trong menu Start sẽ phân tích tốt hơn. Có thể phân vùng các ct cần Uninstall trong một ổ đĩa bằng cách chọn trong ô Drive for Search hoặc kiểu ct trong Files of Type.
Fast & Safe CleanUp là phần xoá nhanh và an toàn những file không còn dùng đến trong các thư mục rác, tạm, file lỗi…phần này có thể chạy ngay từ khi chưa cài đặt NCS do đó nó rất đơn giản.
Trong giao diện sd chính, bạn có thể vào settings để thiết đặt các phần mà nó xoá (gồm: Internet cache, History, Recycle Bin, Temp, Lost Cluster), nên thiết đặt sao cho hợp lý với sự làm việc của bạn, chẳng hạn bạn làm việc thường xuyên trên Internet tại một địa chỉ nhất định thì việc xoá cache có thể làm bạn phải kết nối lâu hơn. Cũng trong phần Setting, bạn có thể vào tab: Schedule để đặt sẵn chế độ xoá này, đặt khi khởi động là hợp lý nếu bạn cần, đặt thời gian định trước khác (có vẻ không hay lắm). Trong phần Safe Setings, bạn có thể thiết đặt các dạng file nào đó (qua phần đuôi mở rộng của nó) thoả mãn các điều kiện trên (nằm trong thư mục tạm, cache, thùng rác…) không được phép xoá trong mọi quá trình. Sau khi thiết đặt xong, bạn có thể bấm Clean Now để bắt đầu quá trình xoá.
Ở gần phía dưới còn một nút nữa là “Open safe”, nút này sẽ mở ra tiện ích nhỏ là The Norton Safe. Ở đây cũng có một nút “Settings” có chức năng giống phần safe settings ở trên…
Đến đây bạn có thể thấy phức tạp và khó hiểu. Để dễ hiểu hơn, bạn làm một ví dụ sau với Safe: Trước hết xoá rỗng thùng rác, sau đó tạo một file text ở Desktop (không cần tên, nội dung), vào CleanSweep Fast Safe Cleanup, vào settings, chọn tab: Safe Settings có một bảng chứa toàn dấu kiểm và phần đuôi mở rộng, bạn tìm duôi TXT và kiểm vào ô đó, bấm OK, quay ra desktop xoá file đó vào thùng rác (không được xoá ra khỏi thùng rác bằng cách bấm Shift+Delete), sau đó vào The Norton Safe, bấm Scan Now, sẽ thấy trong ô ở đó hiện lên file vừa bị xoá, quay ra mở thùng rác thì không thấy file vừa xoá đâu cả dù biểu tượng Recycle Bin vẫn “có rác”, chuột phải cũng không hiện dòng Empty Recycle. Như vậy Norton Safe đã thực hiện thiết đặt của bạn và không cho xoá file được nó bảo vệ. Thực hiện điều này hơi dài dòng nhưng nó rất có ích khi thùng rác của bạn có rất nhiều file, muốn xoá đi nhưng lại muốn giữ lại một số có kiểu file nhất định. Nhưng phải lưu ý rằng phải có quá trình bấm nút “Scan Now”. Thao tác với file bảo vệ này (restore, delete) phải được thực hiện trong Norton Safe.
Restore Wizad cho bạn trở lại trạng thái trước khi bạn gỡ bỏ một ct nào đó bằng Uninstall Wizard, Clean Registry, Archive Wizard hay Backup Wizard…. Một cách khác, đây chính là cách Backup lại những gì NCS đã làm.

Sư dụng chức năng này xin bạn hãy đọc cẩn thận những gì NCS thông báo, ví dụ hình bên:

ngay khi vào nõ sẽ thông báo có muốn backup lại sự thay đổi gần đây nhất không, nếu chọn NO thì bạn có thể vào một bảng chứa tất cả các backup của sự thay đổi của nó (chưa bị xoá).. Ở đây bạn có thể lựa chọn backup một mục nào đó (xin xem cẩn thận trong Details…) sau đó bấm Next để hoàn thành quá trình backup. Nếu bảng trên quá nhiều sẽ gây rối mắt hoặc tốn đĩa thì bạn có thể xoá một vài mục không còn cần dùng đến bằng nút Delete, xoá xong có thể bấm Cancel để thoát. Lưu ý cẩn thận đến việc bạn sẽ xoá những mục nào, bởi nó còn liên quan đến nhiều tính năng khác nữa được trình bày dưới đây.
2. Internet
Chứa toàn bộ những gì liên quan đến vấn đề làm sạch dấu vết của việc dùng Internet trên máy bạn.
Internet Uninstall chứa toàn bộ phần gỡ bỏ các chương trình được cài đặt vào máy bạn từ Internet (thực ra vào mục này chính là vào mục Uninstall Wizard, nhưng lựa chọn được đặt ngay vào mục Downloads Monitored by Internet Sweep), với điều kiện chức năng SSIS phải được bật khi cài đặt các ct đó.
Internet Cache Cleanup xóa bỏ cache Internet từ trong máy bạn, hãy suy nghĩ trước khi làm điều này. Có thể đĩa bạn sẽ trống đi chút ít, tuy nhiên lần truy cập sau đó của bạn sẽ chậm hơn do không có cache sẵn. (Nếu bạn không biết cache là gì, thì tôi có thể giải thích đơn giản như sau: khi bạn truy cập vào một website nào đó, bạn phải tải về các file âm thanh, hình ảnh, txt… để phục vụ cho website đó hiện đầy đủ trên màn hình của bạn. Lần sau, bạn cũng truy cập vào website đó, quá trình tải về các file trên sẽ được so sánh với các file được lưu trữ lại trong máy, nếu thấy giống nhau về tên và kích thước thì việc tải này là hoàn tất vì có sẵn trong máy bạn, và nó tải tiếp file khác và lại bắt đầu sự so sánh mới. Thông thường trên 60% file được so sánh là giống nhau nếu bạn lặp lại việc duyệt giống như lần trước trừ khi website đó được cập nhật thay đổi hoàn toàn hay thay các đoạn quảng cáo mới. Xin phân biệt rõ ràng: cache này không phải là cache thuộc phần cứng như của CPU hay ổ cứng chằng hạn, cũng không phải cache ảo do Windows tạo ra cho ổ cứng hợt động nhanh hơn). Tuy nhiên nhiều người vẫn hay làm điều này (xoá cache) khi họ dùng máy cơ quan, bởi đây cũng là một trong những thủ thuật lướt web không để lại dấu vết trong máy của họ.
Qua Internet
Cache Cleanup, bạn không còn phải tốn nhiều click chuột, chỉ cần bấm Clean trong
một hộp thông báo là xong.
Cookie Cleanup Xoá bỏ các cookie trong máy, bạn có thể gặp khó khăn hơn với một
website quen thuộc với sở thích của bạn. Nếu duy nhất bạn dùng máy tính của bạn
thì chẳng cần xoá các cookie có vẻ vô hại này làm gì, nếu bạn dùng chung máy
tính, không muốn ai biết sở thích của mình, hoặc đơn giản là nó đã quá nhiều
trong máy bạn, thì hãy xoá nó.
Plug-in Cleanup xoá bỏ những Plug-in của một Website nào đó mà bạn ghé qua đã install vào máy bạn. Thật tiện lợi và an toàn bởi không phải các plug-in nào cũng chỉ trợ giúp bạn xem trang web đó (có thể chứa virus hoặc cái gì đó tương tự), nếu bạn cứ cố muốn xem mà nghe lời website đó cài thêm Plug-in vào thì sau khi xem xong bạn nên gỡ bỏ nó ngay. Để theo dõi được quá trình cài Plug-in, SSIS phải được bật.
ActiveX Cleanup Xem danh sách các ActiveX được cài đặt, cũng giống như các trường hợp trên, bạn có thể mất thú vị khi lướt một trang Web nào đó, nhưng giải phóng đĩa khỏi những gì chẳng còn sử dụng đến trong những lần khác.
Khi bạn chọn ba chức năng cuối cùng này, một bảng thông báo sẽ hiện ra để bạn làm việc với nó. Để thao tác nhanh với các sự lựa chọn toàn bộ, bạn có thể bấm phím chọn Select All, hoặc Diselect all cho huỷ chọn. Tất nhiên bạn chỉ có thể làm việc với các phím được hiện rõ, với các phím mờ chìm thì chức năng đó không có hiệu lực trong tình trạng hiện tại.
3. Programs
Archive Wizard Làm việc theo đúng như tên gọi của nó. Với một chương trình nào đó bạn đã lỡ cài ra mà chưa muốn sử dụng ngay, hoặc một ct nào đó bạn không muốn sd nữa nhưng muốn dùng nó trong tương lai, nên không muốn Uninstall, thì bạn có thể để Archive Wizard cất giữ giúp bạn bằng cách nén cả chương trình thành một file duy nhất, đặt vào đâu đó trên đĩa tuỳ bạn nếu không muốn ở chế độ mặc định, sau đó xoá các file của chương trình đó như chưa hề install. Khi muốn chương trình làm việc lại, bạn có thể dùng Restore Wizard (đã giới thiệu ở trên) khôi phục lại dễ dàng như vừa mới cài đặt xong. Cách làm việc với Archive Wizard như sau: Trong bảng Select the programs archive bạn chọn trong đó shortcut của ct cần Archive (thông thường một ct được đặt riêng trong một thư mục thì bạn có thể chọn cả thư mục đó) giống như những bảng trước, bấm Next, sau khi phân tích, nó đưa ra kết quả trong View để bạn có thể hiệu chỉnh trước khi bấm Finish để có hiệu lực. Trong một số trường hợp (sau khi bấm Finish) bạn sẽ gặp thông báo về việc file của ct là Read-Only, nếu bạn chấp nhận xoá thì nó tiếp tục làm việc, còn nếu không thì Archive Wizard sẽ huỷ bỏ những việc vừa làm trên.
Backup Wizard làm việc gần giống như Archive Wizard, nhưng không xoá các file ct, vậy ct vẫn làm việc bình thường, đến một lúc nào đó ct này có thể bị lỗi và bạn có thể sử dụng Backup Wizard để khôi phục lại. Khi bạn muốn backup một ct nào đó, thông thường bạn copy nó sang một thư mục khác, hoặc một đĩa ZIP, hoặc bạn dùng một ct nào đó tạo một ổ “gương”, thế nhưng vẫn có thể không hiệu quả, bởi các giải pháp trên đơn thuần là copy file, khi lỗi quá nặng, hỏng cả trong registry thì việc backup trên là vô nghĩa. Backup Wizard làm việc khá tốt với các lỗi nặng, do dùng chung công nghệ phân tích Uninstall nên bạn hoàn yên tâm về khả năng ghi lại đăng ký của ct với Registry. Backup Wizard có vẻ thích hợp cho một ct có bản quyền chính thức nhưng lại không có bộ cài, hoặc một vài ct nhạy cảm với việc đăng ký. Backup Wizard sau khi làm việc chỉ tạo ra một file nén duy nhất (mặc định nằm trong thư mục Backup trong thư mục chính làm việc của nó), file này tôi đã thử nghiệm move sang một thư mục khác, sau đó gỡ bỏ cả bộ NCS cùng ct thử nghiệm trên, khởi động lại rồi cài lại NCS, copy nó vào thư mục cũ, cho chức năng Restore Wizard làm việc, thấy rất hiệu quả: ct thử nghiệm hoạt động rất tốt mà không xảy ra lỗi nào. Nếu việc trên được thử nghiệm quy mô hơn: copy file backup như trên, format lại ổ C, cài lại hoàn toàn từ đầu Win cùng NCS (NCS phải được cài sang một thư mục khác tên với thư mục cũ), copy vào Backup của nó xem có hoạt động không, lúc đó là lúc có thể khẳng định chắc chắn nhất (Win cùng NCS không còn dấu vết cũ, registry hoàn toàn mới), nhưng tôi chưa dám làm điều này, nếu kết hợp với vài thử nghiệm khác cần cài lại Win, tôi sẽ thực hiện để tìm ra chân lý, sẽ cập nhật vào các bài viết khác dưới dạng thông tin thêm. Tìm ra câu trả lời này thì bạn sẽ thấy có một ý nghĩa lớn: file backup dù lớn vài trăm MB nhưng chúng ta hoàn toàn có thể dùng nó để lưu trữ và làm nhiều việc khác nữa.
Move Wizard chỉ cần thiết khi bạn muốn chuyển một ct cài ở ổ đĩa này sang một ổ đĩa khác hoặc một thư mục này sang một thư mục khác. Ứng dụng này có lẽ ít được sử dụng, nhưng trong một vài trường hợp lại khá hữu ích, chẳng hạn cài ở ổ C nhưng sau đó ổ C cần một khoảng trống lớn hơn để tăng hiệu quả sd của Win (thường là nơi giải nén tạm khi cài các ct từ bộ cài nén có dung lượng lớn; giành khoảng trống cho file hoán đổi; giành khoảng trống cho System Restore của ME..). Tuy nhiên không phải chương trình nào cũng làm được việc này, bạn sẽ nhận được một thông báo rằng ct đó không được giám sát khi cài của SSIS, không thể move được vì tính an toàn cần có. Cũng đúng thôi, nếu các ct kiên kết với nhau thông qua registry để sử dụng thì việc này trở lên mất ổn định hệ thống. Nếu bạn cứ nhất quyết move nó thì bạn có thể làm cách sau: Từ cửa sổ làm việc chính của NCS, vào Options, trong khung Safely Sweep, chọn kiểm vào Off rồi bấm Apply, sau đó tiến hành move, nó sẽ đưa ra cảnh báo như trên nhưng có thêm hai nút yes/no, chọn yes. Tuy nhiên cá nhân tôi không đề cử bạn làm vậy.
Transport Wizard thường được dùng cho việc copy một ct nào đó đã được cài đặt sang một máy tính khác. Như vậy đây có thể là một việc làm vi phạm bản quyền cho phép ct cài đặt trên một máy đơn, nhưng Symantec tung sản phẩm của mình ra khắp thế giới, và đã tính đến chuyện này (lưu ý: Luật Mỹ: người bán súng không chịu trách nhiệm về hành động giết người của người mua). Chức năng này hoạt động hoàn toàn trên nguyên lý của Move Wizard, có nghĩa là bạn có thể gặp thông báo và cách tảng lờ của bạn giống như mục trên, và lời đề cử của tôi vẫn thế.
4. Advanced
Registry Sweep Là một tính năng quan trọng của NCS dùng để dọn dẹp rác rưởi trong Registry, do đó tối ưu hơn cho hệ thống của bạn. Mỗi hành động thay đổi trong Windows của bạn thường được ghi nhận trong Registry, nhưng các hành động ngược lại của hành động trên thì lại không được xóa đi do tính an toàn cần thiết (ví dụ cài đặt thì ghi vào reg, nhưng gỡ cài thì reg đó vẫn còn một số mà không mất đi hoàn toàn). Cho đến một lúc nào đó, Registry của Windows trở thành một kho chứa những thứ vụn vặt không dùng đến, điều này làm tăng kích thước Reg một cách đáng kể, dẫn đến làm chậm hệ thống.
Vậy làm thế nào để loại bỏ tất cả các thứ rác rưởi linh tinh trong registry một cách an toàn nhất. Registry Sweep giải quyết vấn đề đó một cách khá thận trọng. Quá trình Seaching Registry rất lâu, sau đó sẽ đưa ra một bảng kết quả để bạn có thể lựa chọn có Clean khoá nào không rồi tiến hành.

Xin đừng hiểu
nhầm rằng Registry Sweep có thể sửa chữa hay tìm ra chỗ sai hỏng trong reg, việc
làm đơn thuần của RS chỉ là tìm kiếm tất cả các khoá có giá trị trong reg (Key
values), trong số đó tìm tất cả các khoá có liên quan hay có giá trị chỉ đến một
file hay một thư mục cụ thể nằm trên đĩa, tiếp theo là tìm file hay thư mục đó
có tồn tại hay không và so sánh. Việc kết luận (Search Results) được dựa vào sự
so sánh giữa khoá chứa file và thư mục với file và thư mục tìm thấy. Các khoá
không tìm thấy sẽ được phân thành ba loại trong bảng kết quả và có màu sắc khác
nhau với nội dung từng màu sắc nói nên sự an toàn của nó khi xoá bỏ: màu đỏ được
mặc định không được phép xoá bỏ bởi sẽ gây ảnh hưởng đến hệ thống, màu vàng có
mức quan trọng thấp hơn màu đỏ và có thể xoá được khi Safely Sweep is Off (tuy
nhiên mặc định là không xoá được), màu xanh trong bảng đã được kiểm chọn sẵn và
có thể xoá an toàn. Sau quá trình, bạn có thể bỏ xem những gì sẽ xoá rồi bấm
Clean để quá trình Registry Sweep hoàn tất.
Duplicate File Finder dùng để tiến hành tìm kiếm tất cả các loại file có tên và
kích thước hoàn toàn giống nhau nhưng lại ở các thư mục khác nhau trong các phân
vùng đĩa mà Windows có thể nhình thấy được. Sau khi tìm kiếm, DFF sẽ đưa ra một
bảng kết quả để bạn có thể quyết định xoá bỏ hay không. Thông thường việc trùng
lắp file như vậy thường là do bạn sao lưu một thư mục hay một vài ct nào đó,
hoặc cũng xảy ra với những file của các bộ cài đặt với ct chạy đã cài đặt. DFF
chỉ có ý nghĩa nhiều cho sự tham khảo của bạn, nó không đề cử cho bạn xoá các
file này bằng màu đỏ và vàng. Nếu bạn cố tình xoá các file màu vàng thì cũng có
thể hệ ảnh hưởng đến hệ thống.
Redundant DLL Finder cũng có chức năng giống như Duplicate File Finder ở trên, nhưng giới hạn của nó chỉ trong các file DLL, ngoài ra nó còn có một chức năng nhỏ để kiểm tra các phiên bản trong các file dll này nhằm tránh sự xoá nhầm. Dùng chức năng này sau khi được NCS phân tích, có thể đưa ra cho bạn rất nhiều file dll không sử dụng mà bạn có thể xoá được, tuy nhiên nếu bạn để ý kỹ rằng, các file đưa ra đều nằm ở phân vùng đĩa khác ngoài phân vùng hoạt động của các ct (mặc định là C:), như vậy bạn có thể xoá chúng nhưng sẽ gặp rắc rối sau này khi mà bạn muốn cài một ct nào đó chứa sẵn trong máy của bạn thì ct cài sẽ thông báo chẳng có file dll nó cần (!?). Tôi đã bị trường hợp này trước đây một năm vì sự cẩu thả không xét kỹ của mình: tất cả các file dll trong các bộ cài đều mất sạnh, không thể cài thêm được ct nào nữa. Như vậy bạn nên tránh điều này bằng cách: Trong ô: Drives to Search: thường hiện tất cả những ổ đĩa mà bạn có (vd: C:, D:, E:,..) bạn hãy Click vào đây và chỉ chọn ổ đĩa có thư mục Windows và Program Files của bạn (mặc định là C) để tìm kiếm và xoá bỏ. Nếu bạn cài một vài ct sang ổ hoặc phân vùng khác chẳng hạn, thì bạn hãy đặt phân tích cả ổ đó, nhưng trong lần kiểm duyệt cuối cùng trước khi xoá bỏ, bạn nên xem xét kỹ đến các đường dẫn của nó.
Unused File Type Finder có chức năng tìm kiếm tất cả các loại file không được sử dụng đến giới hạn trong vài kiểu nhất định. Sau khi tìm kiếm UFTF đưa ra một bảng kết quả tổng hợp mà dựa vào đó bạn có thể phân tích và quyết định xoá các file không được sử dụng đó. Tuy nhiên, việc này không phải là một cách giải phóng đĩa tốt nhất và an toàn, các file không sd thường chỉ có giá trị trong thời điểm hiện tại, khi mà UFTF đang phân tích. Các kiểu file thường được tôi xóa bỏ bằng UFTF hiệu quả và an toàn là: WallPapers, Font (Unused), Screen Saver…và một số file DOS nếu bạn muốn giã từ với DOS. Tất nhiên, bạn hãy kiểm chọn vào các ô màu xanh để có sự an toàn nhất.
Orphan Finder có chức năng tìm kiếm tất cả các file còn lại không nằm trong các loại trên. Để xoá các file này bạn nên thận trọng kể cả có màu xanh cho phép an toàn. Tốt nhất bạn chọn một file nào đó liệt kê trong bảng và bấm vào nút: Advise ở cột bên phải để tham khảo về chức năng của nó.
5. Options:
Không nằm trong dãy cột chức năng chính của cửa sổ làm việc NCS, tôi trình bày cách thiết đặt này cuối cùng, khi mà bạn đã đọc tất cả các dòng trên và đã hiểu một vài khái niệm cần thiết.
Tab Safe Sweep có các ô: Fast Analysis: chứa hai kiểm chọn: On và Off, hai tuỳ chọn này có ý nghĩa và mục đích: nếu lựa chọn On thì việc phân tích trở nên nhanh hơn trong mọi vấn đề mà nó phân tích do bỏ qua rất nhiều bước, điều này có thể dẫn đến rủi ro cao hơn trong việc xoá bỏ của bạn. Nếu bạn chọn Off, sự phân tích sẽ trở nên kỹ lưỡng, và bạn phải trả giá bằng việc tất cả việc phân tích đều chậm.
Trong ô Safely Sweep cũng có hai kiểm chọn On và Off, bạn quyết định kiểm chọn nào sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sự an toàn của hệ thống. Mặc định trong kiểm chọn này là ON, là đề cử của Symantec (mặc dù không có một dòng đề cử nào) cũng như của cá nhân tôi. Khi bạn lựa chọn ON thì trong các bảng kiểm chọn mà bạn gặp trong các mục ở trên chỉ được phép kiểm chọn các phần có màu xanh. Nếu bạn chọn OFF thì có nghĩa rằng bạn đã tự chấp nhận đến các khả năng có thể gây lỗi trong các ct và hệ thống, thiết đặt này làm cho bạn có thể chọn kiểm vào tất cả các ô màu vàng.
Tab Smart Sweep/Internet Sweep quy định chế độ làm việc của SSIS. Có hai phần: phần trong ô phía trên bao gồm: Turn Smart Sweep/Internet Sweep On và Off. Đây chính là thiết đặt đã được nói nhiều ở phần trên: nếu bạn đặt nó là On thì tất cả các chương trình được cài đặt vào máy bạn đều được theo dõi và được ghi nhận lại nhằm phục vụ cho các mục đích của khác nhau sau này như: uninstall, move, transport… một cách triệt để nhất. Chế độ này được đặt khi bạn kết nối trực tuyến cũng sẽ giúp đỡ bạn rất nhiều trong việc theo dõi mọi thứ dù không muốn nhưng cứ tự động install vào máy bạn. Khi bạn đặt thiết đặt này, bạn sẽ thấy một biểu tượng nhỏ dưới khay đồng hồ hình chiếc kính đặt trên ổ đĩa cứng. Nếu bạn đặt Off thì có thể bạn sẽ có cảm tưởng rằng máy mình đã được tối ưu hoá vì không có nhiều ct chạy thường trú, nhưng bạn lại không được hưởng tất cả các tính năng đã trình bày ở trên một cách chọn vẹn.
Ngăn cách với ô trên, bạn có hai kiểm chọn ở bên dưới: Load SSIS on Startup, và Automatically Monitor Installs When Loaded, kiểm chọn trên đơn giản là khởi động SSIS cùng theo sự khởi động của Windows (sẽ có biểu tượng trong khay đồng hồ), kiểm chọn dưới sẽ cho phép SSIS tự động theo dõi mỗi khi cài đặt một ct. Tốt nhất là bạn nên kiểm ở cả hai lựa chọn này nếu bạn thường xuyên dùng Internet hoặc cài đặt các ct mới.

Ở khung bên dưới không có tên gì cả nhưng có hai nút: Names và Log. Khi bạn bấm vào nút Names, sẽ thấy một danh sách các tên tự như tên file nhưng có đuôi exe, ví dụ: setup, setup1, install, appinst…(đều có đuôi exe). Đây chính là các file mà SSIS chấp nhận coi là một file cài đặt của ct, chỉ những file này mới được theo dõi khi bạn bắt đầu quá trình cài đặt. Như vậy, nếu bạn chạy một ct có file cài đặt là caidat.exe thì có thể SSIS sẽ không biết và không bắt đầu tiến hành ghi nhận. Vậy bạn bảo: thế thì kém, nhưng bạn hãy nghĩ rằng trong phiên làm việc của bạn có rất nhiều ct làm việc đều có đuôi exe, vậy nếu SSIS theo dõi toàn bộ thì các file đó và ghi nhận lại thì máy sẽ trở nên ì ạch khủng khiếp. Bây giờ nếu muốn SSIS theo dõi quá trình cài đặt của bạn từ file caidat.exe như trên thì sao, rất đơn giản, bạn bấm vào nút Add.. ở bên, đánh tên caidat.exe vào, bấm OK để chấp nhận. Từ đây tất cả các file có tên caidat.exe khi chạy đều được SSIS coi là bắt đầu quá trình cài đặt. Điều này rất thiết thực, đôi khi bạn install một ct lại có những tên không theo chuẩn, chẳng hạn: Winzip8.exe, Cab2001.exe…
Tab Backup/Restore chứa thư mục mặc định cho mọi trường hợp mà NCS sẽ lưu trữ vào đó, bạn có thể thay đổi thư mục này cho phù hợp với tình trạng sử dụng trong các phân vùng đĩa của bạn, tôi chỉ gợi ý rằng thư mục đó phải được an toàn trong mọi trường hợp (ví dụ không được đặt trong các thư mục khác có tên là “Temp”, hay “TMP”… mà người khác có thể xoá nhầm phải).
Dưới phần này có các kiểm chọn sau:
In Unstall
Wizard, ask if confirmation is wanted: Thiết đặt này sẽ hỏi bạn vài điều khi bạn
sử dụng Uninstall Wizard, nếu không chọn thì nó sẽ bỏ qua vài bước rườm rà mà
làm việc luôn, đề cử là thiết đặt.
In Restore Wizard, ask what action to…: Thiết đặt này sẽ cho phép Restore Wizard
hỏi bạn hay không khi bạn Restore một ct nào đó mà ct này đang còn tồn tại.
Remind me if any backup…: Thiết đặt cho phép NCS nhắc bạn về sự sao lưu ct sau một số ngày xác định nào đó được chọn bằng số trong ô bên phải.
Tab View chứa các thông tin quan trọng trong quá trình làm việc của NCS, bạn có thể theo dõi NCS đã làm những gì với một ct mà bạn phó thác cho nó Backup, Uninstall, Move…
Lưu ý khi sử dụng Norton CleanSweep
Norton CleanSweep không thể làm được tất cả mọi việc quá giới hạn của nó, vậy bạn đừng nên bắt nó phải gỡ bỏ các ct (dù có được theo dõi bằng chức năng SSIS) được tích hợp chắc chắn vào hệ thống: chẳng hạn IE, Office hay một vài ct lớn khác nữa của Microsoft bởi các ct này thường bám chắc vào nhau. Việc gỡ bỏ nó nếu không là vô nghĩa (không thực hiện được ngay từ khi bắt đầu tiến hành) thì cũng gây lên lỗi trầm trọng trong hệ thống…chi tiết hơn, hãy đọc Readme của NCS hoặc phần Help.
NCS có tính tuỳ biến rất cao, cho phép mọi đối tượng sử dụng theo ý mình nên bạn làm việc với NCS phải luôn thận trọng trong mọi quyết định. Sự thận trọng của bạn sẽ mang đến sự an toàn của hệ thống. Tôi đã dùng bộ NSW với NCS trong một thời gian khá lâu mà chưa bao giờ thấy nó gây trục trặc hệ thống.
NCS sử dụng rất nhiều hộp thoại, thông báo, bảng kết quả có vẻ giống nhau ở các chức năng riêng, đa số các trường hợp là bạn sẽ thao tác với chúng giống nhau, nên trong bài viết này, bạn có thể sử dụng một số điều đã hướng dẫn ở trên hoặc dưới nó để sử dụng, điều này nhằm tránh lặp lại không cần thiết những gì đã trình bày trong bài viết.
NCS có sử dụng CSHOOK.VXD để tăng khả năng làm việc của mình, chính điều này khiến cho việc nếu bạn vừa sử dụng NCS để phân tích Clean Registry thì sau đó một số ct chạy sẽ bị chậm đi (triệu chứng như tranh chấp hook của Từ Đển LVTD300, tuy nhiên NCS không gây một xung đột nào với các ct khác) thể hiện rõ nét nhất là đối với Norton WinDoctor hay Norton System Check của NU, ngoài ra không nhận thấy ở các ct khác. Nếu vừa dùng chức năng trên của NCS thì sau đó muốn dùng NWD hay NSC của NU, bạn nên Restart lại máy.
NCS cài trên WinNT4/2000 cũng có chức năng tương tự như cài trên Win9X.
Để an toàn và hiệu quả nhất, hãy thiết đặt những gì mà NCS đề cử. Mặt khác bạn nên luôn dùng những phiên bản mới nhất của nó nếu không thể dùng chức năng LiveUpdate của nó. Thời điểm này (6/2001), bạn nên dùng NCS2001 trong bộ NSW2001, bộ này hoàn toàn tương thích với WinME và Win2000 Service Pack 1.
Trương Mạnh An - Đại học Bách Khoa Hà nội.
(Có thể sử dụng bài viết cho mọi mục đích về học tập, chỉ được phép sửa đổi, bổ xung bài viết cho đúng thêm hoặc có thể cắt đi những nội dung rườm rà – khi đó nên mail cho tác giả tại antm75@yahoo.com, không được gây nhiễm virus vào file có chứa nội dung bài viết này để truyền bá – xin giữ lại dòng này trong trường hợp truyền bá dưới dạng file)
PcLeHoan
1996 - 2002
Mirror :
http://www.pclehoan.com
Mirror :
http://www.lehoanpc.net
Mirror :
http://www.ktlehoan.com