MemTurbo II
Hiệu quả hơn với RAM của bạn !
Trương Mạnh An - Đại học Bách Khoa Hà nội. ( antm75@yahoo.com )
Máy tính của bạn chỉ có một lượng RAM khá khiêm tốn so với bạn bè ? Bạn nên dùng MemTurbo II của Silicon Prairie Software để Windows có thể hoạt động hiệu quả gần như có nhiều Ram hơn. Máy của bạn quá “thừa” Ram (128MB trở lên), Hãy dùng MemTurbo II để sử dụng hiệu quả hết lượng Ram mà Windows không dùng đến. Và nếu bạn không muốn một tiện ích nào để quản lý Ram của mình, thì bài viết này vẫn có ích cho bạn hiểu thêm chút ít về khả năng quản lý bộ nhớ vật lý cũng như ảo của Windows.
Trước hết, xin nói rằng lượng Ram mà bạn có không bao giờ là thừa cả cho dù bạn có trên 512 MB mà máy bạn dùng lại không kiêm nhiệm như một Server. Tuy nhiên, đôi khi chính Windows cùng các ứng dụng nhỏ của bạn không dùng hết lượng Ram ấy.
Còn nếu máy bạn có ít Ram như mức bình quân của các máy tính hiện nay (32MB thậm chí ít hơn, số liệu này có cơ sở, bạn hãy nghĩ đến lượng máy cũ từ những năm 90 trở lại đây đã hội nhập với tin học còn sớm hơn bạn là rất nhiều). Thì giải pháp thông minh nhất là nâng cấp lên 64 hoặc 128MB (thời điểm 7/2001, chỉ với 20 $, bạn sẽ có một thanh RAM 128MB hiệu Kingston bus100/133, BH 2 năm). Thế nhưng, đôi khi Mainboard lại tự chối sự nâng cấp của bạn bởi vấn đề tương thích (điều này khá dài dòng khi giải thích và sẽ đi quá xa nội dung bài viết), nên bạn vẫn phải ì ạch với 32MB của mình. Và đây là lúc bạn sử dụng MemTurbo II (xin viết tắt là M2).
Có thể có nhiều tiện ích khác có cùng chức năng như M2 như: CacheMan, RamPage… và mỗi tiện ích có một khả năng và sức mạnh riêng, tuy nhiên tôi đã chọn và sử dụng M2 bởi nó đúng như lời giới thiệu trước khi bạn Download M2 từ Website Lê Hoàn: Vô hình, an toàn, nhỏ gọn. Ngoài ra tôi còn thấy nó hay ở một số tính năng khác nữa.

Hãy xem Windows quản lý lượng Ram như thế nào: Với một máy tính thoả mãn vượt quá lượng Ram tối thiểu cho từng phiên bản của Windows yêu cầu là nó có thể hoạt động tốt trên số Ram đó. Khi một chương trình hay ứng dụng khác cần nhiều Ram để hoạt động, Windows 9X sẽ chuyển những gì đang có trên Ram sang đĩa cứng vào một file hoán đổi có tên là Win386.swp (file này nằm trong thư mục C:/ Windows, nếu dùng Norton Utilities tối ưu hoá nó, thì sẽ chuyển sang thư mục gốc) và coi đây là bộ nhớ ảo (Virtual Memory). File này theo mặc định sẽ được Windows quản lý kích thước của nó trong từng phiên làm việc của mình, thông thường nó giữ cố định lại kích thước lớn nhất mà nó từng làm việc, và theo lý thuyết, nó có thể lớn đến vài trăm MB nếu một ct nào đó sử dụng nhiều đến như vậy. Tất nhiên việc chuyển dữ liệu từ Ram sang đĩa sẽ có mặt hạn chế về tốc độ, các chương sẽ chạy chậm hơn do phải đọc ghi thông tin liên tục từ đĩa qua file hoán đổi.
Việc quản lý bộ nhớ vật lý cũng như bộ nhớ ảo của Windows vẫn còn là vấn đề được xem xét. Một chương trình hay ứng dụng bất kỳ trong phiên làm việc của mình sẽ nạp vào Ram những thứ cần thiết cho nó, tuy nhiên kết thúc phiên làm việc đó đôi khi nó lại quên không giải phóng lại lượng Ram đã chiếm dụng trả lại cho Windows, như vậy ta nói rằng bộ nhớ bị rò rỉ từ những ct như vậy (các ct kiểu này thường viết bởi các lập trình viên non tay). Chính Windows cũng không thể nhận biết được điều này, và do đó lượng Ram bị mất đi là lãng phí không cần thiết.
Bây giờ ta xem một ct sẽ hoạt động như thế nào. Trước hết, nó kiểm tra lượng Ram cần thiết dùng cho nó, nếu thấy thiếu, nó sẽ yêu cầu Windows giải phóng cho nó một lượng nhất định. Việc giải phóng này rất dè xẻn theo đúng yêu cầu của ct, tuy nhiên, đến khi hoạt động, ct lại cần thêm một lượng Ram nữa, Windows lại tiếp tục giải phóng thêm bộ nhớ vật lý bằng các chuyển dữ liệu vào bộ nhớ ảo trên đĩa. Việc cầu-cung này diễn ra liên tục làm giảm hiệu suất hoạt động chung.
Bây giờ ta lại xem CPU hoạt động thế nào với các dữ liệu trên Ram, ta biết rằng Ram được sử dụng hiệu quả cho các chương trình, các dữ liệu đặt trên Ram luôn có thể được chờ đợi sẵn sàng để đến CPU xử lý. Việc xử lý dữ liệu không đơn thuần là dữ liệu được lấy trực tiếp từ Ram, việc này sẽ làm chậm quá trình, dữ liệu từ Ram sẽ được chuyển đến các cache của CPU qua các mức L2 rồi đến L1 (lưu ý rằng một số CPU không có cache) rồi vào CPU (các hoạt động này xin bạn đọc các bài viết khác để hiểu thêm). Các mức cache L1, L2 thường rất nhỏ (vài chục Kb với L1, vài trăm Kb đến vài Mb đối với L2), việc vận chuyển dữ liệu thường gặp các dữ liệu có dung lượng lớn. Ta biết rằng RAM (Random Access Memory) là bộ nhớ truy cập ngẫu nhiên, do đó việc dữ liệu bị phân mảnh có thể không ảnh hưởng đến quá trình truy nhập ? quả đúng vậy (vậy chức năng chống phân mảnh cho Ram của M2 là vô nghiã ?), tuy nhiên nếu bạn xét đến nguyên lý làm việc và vận chuyển dữ liệu từ Ram đến cache thì bạn sẽ thấy rằng khi một dữ liệu dung lượng lớn thì việc vận chuyển nó từ Ram vào cache sẽ tối ưu hơn khi nó liền mạch nhau mà không bị phân mảnh, điều này xảy ra khi cache chỉ vận chuyển đơn thuần dữ liệu cần thiết mà nó dự đoán CPU sẽ dùng đến (việc vận chuyển này theo một cơ chế làm việc rất phức tạp, được cải tiến theo từng đời của CPU). Chức năng chống phân mảnh Ram có thể sẽ không cần nếu bạn sd các CPU đời mới khi nó có riêng các tập lệnh điều khiển cache, làm cho việc sd cache hiệu quả hơn, hoặc cũng có thể không cần thiết với các CPU không cache. Tuy nhiên trong mọi trường hợp, việc chống phân mảnh tưởng như vô nghĩa đó lại rất hiệu quả và tối ưu.
Và cuối cùng là những gì sẽ nạp vào bộ nhớ vật lý khi Windows khởi động ?. Phải nói là rất nhiều, rất nhiều thư viện liên kết động (các file *.dll), vxd, font…mà chúng lại không được sử dụng ngay hoặc không cần thiết trong cả phiên làm việc đó. Bạn thường không biết điều này: sau khi Windows khởi động xong thì lượng bộ nhớ vật lý còn trống là bao nhiêu ?, với 32MB Ram thì khả năng bạn không còn đến 3MB. Điều này có nghĩa là bạn sắp bắt đầu làm việc với một ứng dụng nào đó thì Win cũng sắp bắt đầu cho việc ghi vào file hoán đổi, do đó ứng dụng mà bạn mở sẽ rất chậm do phải tiến hành đồng thời hai quá trình: nạp ứng dụng và giải phóng Ram.
Hãy xem MemTurbo II làm gì cho bạn.
Tôi không giải thích ngay nguyên lý làm việc vủa M2, tuy nhiên bạn có thể biết nó qua từng công dụng của nó được trình bày dưới đây.
Free Memory cũng là giao diện sử dụng chính của M2, được trình bày ở hai hình trên với hai trạng thái của Ram: 128MB và 32MB. Ở phần trên cùng, dưới dòng CPU Usage có một dãy sáng tựa như đèn LED trong dải phân tích âm thanh mà ta thường gặp, dãy này giao động liên tục từ 0 đến 100% chính là mức độ sử dụng của công suất CPU. Đây chính là điều mà các ct khác không có được, mặc dù ta có thể biết được điều này thông qua System Monitor của Windows, nhưng dù sao việc tích hợp vào một của M2 cũng làm ta bớt mất công click chuột, lại tiện dụng cho việc phân tích và chuẩn đoán hệ thống. Biểu đồ bên dưới nó thay đổi liên tục từ phải qua trái biểu diễn tình trạng bộ nhớ vật lý của hệ thống còn dư. Điều này cũng giúp bạn khá nhiều trong việc chuẩn đoán hệ thống cũng như theo giõi tình trạng Ram sẵn sàng làm việc (ví dụ về chuẩn đoán: ta có thể biết một ct có thể cần cần dùng đến bao nhiêu MB Ram…)
Bên phải của biểu đồ trạng thái Ram có hai thanh trượt theo chiều đứng, tuỳ theo chức năng của nó mà ta có thể điều chỉnh trạng thái làm việc của nó:
Auto Recover Level: được thiết đặt để tự động giải phóng Ram, khi tình trạng Ram còn trống nhỏ hơn giới hạn đặt này thì M2 sẽ tự động giải phóng Ram cho bạn. Việc giải phóng Ram của M2 cũng không có gì là cao siêu lắm, nó đơn thuần là việc chuyển dữ liệu trong bộ nhớ vào file hoán đổi. Như vậy việc giải phóng Ram bằng M2 thực hiện hoàn toàn tự động qua thiết đặt này mà không phải chờ đến khi ct cần Ram thì Win mới giải phóng điều đó làm cho ct luôn có bộ nhớ để có thể sẵn sàng làm việc, điều này làm tăng hiệu quả của hệ thống. Vậy lượng Ram giải phóng đến bao nhiêu ?. Mức sau đây do ta thiết đặt sẽ quy định điều đó.
Target Free Ram là mức cao nhất trong thiết đặt để M2 tự động giải phóng lượng Ram có thể đến. Như vậy, có thể thấy rằng nếu bộ nhớ vật lý còn trống có giá trị thấp hơn mức thiết đặt trong Auto Recover Level thì sẽ được M2 giải phóng lên đến mức thiết đặt trong Target Free Ram.
Cũng trong Tab này, có hai nút: Recover Ram và Scrub Ram. Recover được dùng để M2 cố gắng giải phóng Ram đến mức thiết đặt ở Target Free Ram. Cũng như sự thiết đặt tự động trên, tuy nhiên lần này bạn sẽ tự động giải phóng mà không phải chờ đến khi lượng Ram còn đến mức thấp, bạn có thể bấm nút này hoặc một phím tắt thiết đặt trong Options. Scrub Ram là nút mà bạn có thể phó mặc cho M2 giải phóng lượng Ram lớn nhất có thể, như vậy khi dùng nút này, toàn bộ những gì trong Ram nếu có thể đưa ra file hoán đổi thì sẽ đưa ra hết, nhằm tạo cho bạn một lượng Ram khá lớn cho một ứng dụng nặng nề sắp chạy (vd: các games mạnh, CAD3D…). Chức năng này không phải là một giải pháp hay cho bạn, các file dll được chuyển sang file hoán đổi sẽ được nạp trở lại Ram nếu nó được sử dụng, nếu bạn không chạy ứng dụng gì lớn thì các ứng dụng bình thường của Win bây giờ trở lên rất chậm bởi nó không được chuẩn bị sẵn sàng trong Ram. Như trong hình minh hoạ bên phải, ta thấy rằng lượng Ram cực đại trong trường hợp này là 21MB free trên tổng số 32MB Ram chính khi tôi vừa giải phóng (tuỳ tình trạng sử dụng các trình thường trú mà số này có thể giao động trong máy bạn).
Options: chứa toàn bộ thiết đặt của bạn.
General có các ô kiểm chọn:
Start Memturbo automatically when Windows starts: được chọn như một mặc định, kiểm chọn này giúp M2 luôn bắt đầu hoạt động khi Windows khởi động.
Do a Recovery as soon as CPU is idle after Windows startup: Là sự lựa chọn thông minh của bạn, khi Windows khởi động, nó sẽ nạp toàn bộ những gì mà các ct sẽ cần dùng sau này, việc nạp này được gối lên sự nạp các ứng dụng sẽ chạy thường trú trong suốt phiên làm việc của Windows, cũng trong quá trình này, M2 được nạp để bắt đầu chạy, thể hiện bằng một biểu tượng nhỏ màu xanh trong khay đồng hồ. Việc nạp các ct sẽ nhanh chậm tuỳ theo tốc độ CPU và số ct thường trú. Khi các ct đã được nạp xong thì đây là thời điểm tốt nhất để giải phóng một lượng Ram nhất định, các ứng dụng sắp được bạn mở sẽ có ngay bộ nhớ để dùng.
Recover Ram automatically when alarm level is read: là thiết đặt cho phép M2 giải phóng Ram khi bộ nhớ vật lý ở mức thấp hơn thiết đặt trong thanh trượt Auto Recover Level đã nói ở trên.
Recover Ram automatically every: Cho phép bạn thiết đặt giải phóng, chống phân mảnh Ram của bạn sau mỗi khoảng thời gian nhất định tính theo phút, mặc định là 30 phút nhưng bạn có thể thiết đặt lại thời gian này sao cho phù hợp với việc làm của bạn.
Enable MemTurbo Guide: chỉ có tác dụng hiện thông báo hướng dẫn sử dụng mỗi khi bạn dùng một chức năng nào của M2.
Use full-screen progress indicator: thiết đặt kiểm chọn này cho phép bạn bật tính năng thể hiện việc giải phóng cà chống phân mảnh Ram bằng hai dòng màu chạy song song phía dưới màn hình, chỉ có tác dụng hoạt hình thông báo.
Don’t auto-recover unless CPU usage is below: Việc giải phóng và chống phân mảnh Ram được sử dụng hiệu quả và không gây ảnh hưởng đến các ct khác đang hoạt động quá căng thẳng. Khi một ct nào đó đang chiếm đến xấp xỉ 100% CPU thì việc giải phóng Ram có thể gây lỗi đến ct đó (vì có thể nó đang sử dụng đến Ram rất mạnh), kiểm chọn này chính nhằm ngăn chặn điều đó, bạn có thể quy định khi CPU hoạt động dưới một mức nào đó (mặc định là 25%) thì M2 mới được phép làm việc.
Hotkeys
Cho phép bạn lựa chọn một phím tắt để giải phóng và chống phân mảnh Ram bất cứ lúc nào bạn muốn.
Memory Graph Speed
Cho phép thiết đặt tốc độ hiển thị mức CPU sử dụng và tốc độ vẽ đồ thị lượng Ram còn trống. Có 4 mức lựa chọn: từ Slow đến Very Fast, mặc định là đặt tại Fast, tuy nhiên bạn nên đặt nó ở Medium hoặc Slow, bởi chính yêu cầu hiển thị quá nhanh cũng làm CPU của bạn hoạt động nặng nhọc hơn.
Information. Tab này đơn thuần hướng dẫn sử dụng M2 cho hiệu quả nhất, nguyên lý hoạt động cũng như việc trình bày dưới dạng các câu hỏi thường gặp. Bạn nên đọc kỹ nó trước khi sử dụng để hiểu thêm. Nếu không, những gì tôi trình bày cũng đủ cho bạn sử dụng M2.
Cache Turning
Là điều cuối cùng mà bạn nên quan tâm. Nếu bạn đang ở mức 32MB Ram thì có lẽ bạn sẽ không cần và không nên sử dụng các thiết đặt trong phần này. Nếu bạn có 64 hoặc nhiều hơn thì các thiết đặt trong đây sẽ làm cho máy tính của bạn sử dụng hiệu quả hơn.
Chúng ta chắc đã hiểu về cache của CPU (L1, L2) làm tăng khả năng và hiệu suất hoạt động, nhất là xử lý multi, tuy nhiên có thể chưa biết về cache cứng của Hard Disk. Các đĩa cứng đời cũ thường không có cache nên bạn có thể chưa hiểu khái niệm này, nhưng đến hiện nay các đĩa cứng có giao tiếp nhanh hơn, dung lượng lớn hơn, nên các nhà sx đã tích hợp vào đó một lượng cache nhất định, ta gọi là cache “cứng” để phân biệt với cache “mềm” mà tôi sắp trình bày. Cache trong ổ đĩa chính là một loại Ram đặc biệt được gắn trong lòng nó, nhiệm vụ của cache đĩa là bộ nhớ đệm cho phép đĩa cứng làm việc và truyền tải dữ liệu đến Ram được tốt hơn và không bị gián đoạn bởi sự di chuyển đầu đọc và đường vận chuyển dữ liệu. Ví dụ CPU cần một dữ liệu A để xử lý cho công việc của nó (chẳng hạn A là một file mp3 khi bạn đang nghe nhạc), sau các công đoạn tìm kiếm trên L1, L2, Ram mà vẫn không thấy, nó bắt buộc phải tìm trên đĩa cứng, khi này đĩa cứng sẽ tìm kiếm và đọc dữ liệu A, dữ liệu này sẽ được truyền vào CPU theo con đường ngược lại, tuy nhiên nếu dữ liệu A là rất lớn (khoảng vài MB đến vài chục MB) thì lúc này CPU lại không thể xử lý hết ngay hoặc có thể chưa dùng đến những phần sau của A (chẳng hạn nó lại kết hợp xử lý đa nhiệm với một dữ liệu B khác có thể trên Ram hoặc đĩa cứng). Vậy để chuẩn bị cho việc CPU có thể hỏi đến A bất cứ lúc nào trong thời gian sau thì có hai cách tối ưu: A được đặt vào bộ nhớ trên đĩa cứng (chính là cache đĩa cứng) hoặc A được đặt vào Ram. Trên đây là một ví dụ nhỏ, trong một vài trường hợp khác cache đĩa cũng rất hiệu quả.
Bạn không có cache trên đĩa cứng ?. Không sao nếu bạn có nhiều Ram, chúng ta sẽ chọn giải pháp tối ưu thứ 2 trong ví dụ trên: đặt sẵn dữ liệu cần dùng vào Ram.
Windows luôn tạo cache cho đĩa cứng, tuy nhiên thường thiết đặt này là rất nhỏ. Sử dụng M2 chính là thay đổi tình trạng thiết đặt cache của Windows sao cho các thiết đặt này phù hợp với lượng Ram sẵn có của bạn.
Trong mục này, khi bạn có trên 64MB Ram, bạn có thể yên tâm tích vào ô kiểm chọn chứa dòng: Enable MemTurbo Control of these functions. Và từ đây, bạn đã chấp nhận việc dùng Ram làm “cache mềm” cho ổ cứng, tất cả chỉ còn phụ thuộc vào thiết đặt làm việc của bạn mà thôi.
Thanh trượt: Minimum cache size dùng để thiết đặt mức cache tối thiểu mà bạn sẽ dùng Ram làm cache mềm. Thiết đặt bao nhiêu là tuỳ bạn, nhưng không nên đặt quá lớn, việc đặt quá cao cũng có thể làm chậm hệ thống, bởi nó làm giảm bộ nhớ vật lý và đĩa luôn phải đọc một lượng nhất định để đặt vào đây. Theo tôi, bạn nên đặt khoảng 4-5MB - bằng dung lượng một bài hát dạng mp3 khi bạn vừa làm việc vừa nghe nhạc.
Thanh trượt Maximum Cache Size được bạn thiết đặt quy định mức cache cao nhất có thể dùng của M2. Việc đặt này cũng tuỳ theo tình trạng của Ram. Mức thiết đặt này không có nghĩa là Win luôn dùng đến dung lượng Ram như vậy, nếu bạn phải làm việc với một file có dung lượng quá cao (chằng hạn bạn zip một folder) thì việc này rất hiệu quả. Mặt khác đặt dung lượng cao thì cache không đơn thuần dùng cho một file mà dùng cho rất nhiều file. Nếu bạn có một cấu hình tựa như máy chủ: có Ram=512 có nghĩa là lớn hơn cả thư mục Windows, khi này bạn thiết đặt mức cache đến 400 MB thì có nghĩa là ổ cứng chỉ đọc vào một thời điểm nhất định khi bắt đầu dùng ct, còn sau đó mọi thứ sẽ làm việc trên một ổ ảo-cực nhanh có thể tương đương với một ổ có số vòng quay trên phút không phải là 5400 như của bạn nữa, mà rất cao, các máy chủ lớn cũng làm việc trên nguyên tắc này nhưng do có rất nhiều ổ đĩa và đa nhiệm trong nhiều việc nên việc cache sẽ không được như bạn chỉ làm vài việc nhưng lại có một lượng Ram khủng khiếp như vậy. Thiết đặt này còn hay ở chỗ: khi cần giải phóng Ram cho các ứng dụng đòi nhiều Ram hơn lượng còn trống thì trước hết Win sẽ giải phóng vùng Ram dành cho cache trước, do đó không có chuyện là ghi vào file hoán đổi rất mất thời gian (cache đĩa mà lại ghi trên đĩa cứng thì chỉ có khi ta làm cache cho CD-Room có tốc độ chậm mà thôi).
Theo chính M2 đề cử cho mức sử dụng cache ở trên như sau, bạn nên tham khảo:

Cache Block Size cho phép thiết đặt các khối cache cho đĩa cứng. Bạn biết rằng các ổ cứng hiện đại cho phép vận chuyển dữ liệu theo từng khối chứ không đơn thuần như trước đây nữa (nếu ổ cứng của bạn mua trong vòng vài năm trở lại đây thì có lẽ có chức năng này). Như vậy mức thiết đặt này thường tuỳ thuộc vào trạng thái hình học của ổ đĩa mà bạn nên thử nghiệm nhiều ngày (tuy nhiên bạn có thể không nhận biết được sự thay đổi tốc độ hệ thống). M2 khuyến cáo bạn nên đặt ở mức 8192 bytes, nếu nhiều Ram thì có thể đặt cao hơn. Nếu không biết chắc chắn và việc thử nghiệm là không đưa ra được kết luận thì bạn nên đặt tại giá trị 8192.
Async IO Buffers: Có tác dụng điều chỉnh lại kích thước bộ đệm cho dữ liệu ghi-đọc (Input/Output), mặc định của Windows là 16K, khi mà Ram của ta đã quá lớn thì 16K là một con số không tối ưu, bạn hãy thiết đặt lại ở một mức khác: 64K với mức 64MB Ram ban có, nếu Ram lớn hơn, nên để là 128K. Thiết đặt 128 bao giờ cũng tốt nhất cho hệ thống.
Lưu ý khi sử dụng MemTurbo II:
Việc bạn giải phóng quá nhiều Ram trong khi lượng Ram của bạn nhỏ hơn 32MB cũng có thể gây chậm và thậm chí nguy hiểm đến hệ thống, bạn không nên giải phóng Ram khi mà CPU đang hoạt động vượt mức 50%.
Lượng Ram mà M2 giải phóng được không phải tự nhiên sinh ra, bạn đọc kỹ những điều trên sẽ thấy rằng nó chỉ chuyển từ dạng bộ nhớ vật lý sang bộ nhớ ảo.
Đồng thời với việc giải phóng Ram, M2 luôn luôn chống phân mảnh cho Ram (việc này được làm trước khi giải phóng, thể hiện bằng vạch vàng phía trên mà nó thể hiện)
Bạn có thể dùng M2 cho nhiều việc hơn nữa khi nó cung cấp cho ta biểu đồ sử dụng Ram, tình trạng sử dụng của CPU.
Khi Uninstall M2 nếu bạn không muốn dùng nó nữa thì các thiết đặt sử dụng cache có thể vẫn được giữ nguyên như khi đang sd M2. Vậy trước khi cài đặt M2, bạn nên ghi nhớ thông số sau trong system.ini (dùng Notepad mở file system.ini, tìm dòng [vcache], đọc các giá trị trong dòng dưới (nếu có) và ghi lại. Trong các phiên bản khác nhau của Win9X có thể thiết đặt khác nhau hoặc không đặt), sau khi uninstall, bạn nên thiết đặt lại thiết đặt ban đầu, các thiết đặt này ảnh hưởng rất nhiều đến việc sử dụng Ram của bạn.
[vcache]
MinFileCache=xxxx
MaxFileCache=xxxx
ChunkSize=xxxx
Các dòng này trong WinMe là không có (tức không có các dòng sau [vcache] tuy nhiên một vài chương trình khác có thể thiết đặt những con số này vào máy của bạn)
PcLeHoan
1996 - 2002
Mirror :
http://www.pclehoan.com
Mirror :
http://www.lehoanpc.net
Mirror :
http://www.ktlehoan.com