TỔNG QUAN

CHÂN DUNG HIỆP SĨ

HÌNH ẢNH

TRONG NHÀ NGOÀI PHỐ

QUÀ TẶNG CỦA HIỆP SĨ

 

QUÀ TẶNG CỦA HIỆP SĨ

NHU CẦU TIẾP CẬN CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
CỦA NGƯỜI KHUYẾT TẬT

CHƯƠNG I :           CÁC GIẢI PHÁP
CHƯƠNG II:          LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN
CHƯƠNG III:         CẤU HÌNH MÁY TÍNH CỦA NGƯỜI KHIẾM THỊ
CHƯƠNG IV:         SO SÁNH VIỆC SỬ DỤNG GIỮA NGƯỜI SÁNG VÀ NGƯỜI MÙ
CHƯƠNG V:          LƯỚT WEB - NHỮNG TRỞ NGẠI VÀ GIẢI PHÁP
(Còn tiếp)

CHƯƠNG IV
SO SÁNH VIỆC SỬ DỤNG GIỮA NGƯỜI SÁNG VÀ NGƯỜI MÙ

   1. Logic nhìn và nghe:

   - Khi nhìn, ta nắm nhiều thông tin tại nhiều điểm khác nhau rồi tổng hợp chúng để tập trung vào một điểm cần chú ý.

   - Khi nghe, ta nghe lần lượt từng thông tin ở từng điểm rồi lựa chọn vào điểm cần chú ý. Do vậy, khi nghe, ta cần nhớ nhiều hơn khi nhìn.

   2. Sử dụng chuột và bàn phím

   Chuột và bàn phím đều cùng có chức năng di chuyển điểm sáng trên màn hình gọi là con trỏ. Đầu tiên, máy tính được thiết kế để dùng bàn phím. Từ khi có Windows, người ta phát minh thêm ứng dụng con chuột. Hầu hết các chương trình ngày nay đều cho phép sử dụng cả bàn phím lẫn chuột. Tuy nhiên vẫn còn nhiều trường hợp các ứng dụng mới bỏ qua việc tương tác bằng bàn phím mà tập trung vào tương tác bằng chuột. Theo khuyến cáo của tổ chức W3C thì moị ứng dụng trên máy tính đều phải thao tác được cả chuột và bàn phím. Nhờ vậy mọi nhóm người dùng đều có thể sử dụng được.

   World Wide Web Consortium, viết tắt W3C, là một côngxoocxiom lập ra các chuẩn cho Internet. Chủ tịch của W3C là Sir Tim Berners-Lee, người sáng tạo ra HTTP (HyperText Transfer Protocol) và HTML (HyperText Markup Language). Internet dựa trên các kỹ thuật đó.

   Mỗi tiêu chuẩn đi qua bốn giai đoạn: Phác thảo (Working Draft), Chỉnh sửa cuối cùng (Last Call), Trình chuẩn (Proposed Recommendation) và Chuẩn đủ tư cách ứng cử (Candidate Recommendation), trước khi được gọi là Chuẩn chính thức (Recommendation). Các nhà công nghiệp phần mềm được tự quyết định có theo tiêu chuẩn hay không. Thông thường, nhiều trong số họ theo các tiêu chuẩn này.

Nguồn: Wikipedia

   3. Loại dữ liệu

   Các thông tin của máy tính được lưu trữ ở dạng số. Có 3 loại dữ liệu chính cho các thông tin này:

   a. Dữ liệu văn bản.
   b. Dữ liệu hình.
   c. Dữ liệu âm thanh.

   Đối với người dùng sáng mắt, người ta thường thiết kế giao diện màn hình đẹp để gây chú ý và dễ liên tưởng. Tại một số chức năng trên thanh trình đơn menu, nhà sản xuất dùng các biểu tượng hình (icon) để minh hoạ hoặc giúp người dùng dễ nhớ. Theo W3C, thì cần có phần văn bản đi kèm cho các biểu tượng hình hoặc có thể sử dụng 2 loại giao diện. Giao diện đồ hoạ cho các loại máy có cấu hình mạnh và phục vụ người dùng sáng mắt. Loại giao diện cổ điển (classical skin) cho máy có cấu hình thấp hoặc nhu cầu tiếp cận của những nhóm người dùng đặc biệt.

   Cần lưu ý rằng nếu bạn scan một văn bản và lưu lại trên máy thì dữ liệu của văn bản này là dữ liệu hình, cho dù nội dung của hình là văn bản. Do vậy, nên chuyển hình văn bản này thành tập tin văn bản hoàn toàn.

   4. Di chuyển trong một phần mềm

   Các phần mềm có chức năng tham khảo hoặc soạn thảo tài liệu thuộc dạng văn bản, giao diện thường có các thành phần sau:

   - Khu vực soạn thảo: Khi kích hoạt mở một phần mềm soạn thảo, thông thường con trỏ sẽ mặc định đứng ở khu vực soạn thảo của một văn bản mới do phần mềm tạo ra. Khi mở một tập tin văn bản từ những loại phần mềm này, lúc tập tin nạp lên đầy đủ, con trỏ cũng được mặc định đứng tại vùng soạn thảo của tập tin này.

   - Khu vực chính của trang web: Đối với các trình duyệt web (web browser), khi ta mở một trang web, con trỏ văn bản không nằm trên trang. Con trỏ văn bản chỉ xuất hiện khi ta vào các ô nhập thông tin (form) nếu có của trang này. Do vậy trang web là loại tài liệu để tham khảo không có chức năng soạn thảo.

   - Nhóm 8 phím di chuyển con trỏ giúp ta duyệt khu vực này. 8 phím ấy gồm: 4 phím mũi tên lên, xuống, trái, phải và 4 phím Home, End, Page Up và Page Down.

   - Khu vực trình đơn (menu): Trình đơn hay thực đơn là bảng danh sách các chức năng mà phần mềm cung cấp cho người dùng. Muốn di chuyển con trỏ sang khu vực trình đơn ta cần nhấn phím Alt (hoặc F10 tại một số phần mềm). Các chức năng sẽ tác động nếu ta nhấn Enter vào tên chức năng trong thực đơn. Hoặc sử dụng phím nóng nếu có. Tên phím nóng được viết bên cạnh tên của chức năng. Ví dụ: save = Ctrl+S (lưu tập tin).

   - Khu vực thông tin về tập tin: Bao gồm tên tập tin, địa chỉ, đường dẫn... Phải có phím nóng do phần mềm cung cấp mới đến được. Ví dụ, ở phần mềm Nguyễn Đình Chiểu, nhấn Ctrl+T; trình duyệt Sao Mai: Alt+D; khi vào các ứng dụng của MS Office với Jaws, ta phải dùng con trỏ ảo của Jaws để đến vùng này. Nhấn Insert+phím - bên bàn phím số.

   - Chuyển đổi giữa các cửa sổ: Nhấn Alt+tab để chuyển đổi qua lại giữa các cửa sổ.

   - Thực đơn ngữ cảnh (Context Menu): Nhấn chuột phải hoặc phím Application.

   Phần này, xin phép không bàn đến giao diện các loại phần mềm có chức năng quản lý hệ thống, chức năng làm việc với hình ảnh hoặc âm thanh.

Tạp chí Công nghệ thông tin - Viễn thông - Truyền thông e-CHÍP
11A Phan Kế Bính, Quận 1, TP.HCM | ĐT: (08) 9104162 - (08) 9104165 | Email: echip@vasc.com.vn
Văn phòng thường trú tại phía Bắc: Vietnamnet Tower 4 Láng Hạ, Q.Ba Đình, Hà Nội | ĐT: (04) 7722728 - Fax: (04) 7722734