TỔNG QUAN

CHÂN DUNG HIỆP SĨ

HÌNH ẢNH

TRONG NHÀ NGOÀI PHỐ

QUÀ TẶNG CỦA HIỆP SĨ

 

QUÀ TẶNG CỦA HIỆP SĨ

NHU CẦU TIẾP CẬN CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
CỦA NGƯỜI KHUYẾT TẬT

CHƯƠNG I :          CÁC GIẢI PHÁP
CHƯƠNG II:          LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN
CHƯƠNG III:         CẤU HÌNH MÁY TÍNH CỦA NGƯỜI KHIẾM THỊ
CHƯƠNG IV:         SO SÁNH VIỆC SỬ DỤNG GIỮA NGƯỜI SÁNG VÀ NGƯỜI MÙ
CHƯƠNG V:          LƯỚT WEB - NHỮNG TRỞ NGẠI VÀ GIẢI PHÁP
(Còn tiếp)

CHƯƠNG I
CÁC GIẢI PHÁP

   1. Giải pháp cô lập 

Thoạt đầu, nhiều lập trình viên (LTV) phát hiện các chức năng thần kỳ của CNTT trong việc hỗ trợ người khuyết tật nói chung và người hỏng mắt nói riêng. Từ đó họ nghĩ đến việc phát triển những công cụ chuyên dùng cho người mù. Các giải pháp ban đầu thường là sản xuất các loại phần mềm chuyên dùng cho người mù. Và giải pháp phần mềm này cho phép người hỏng mắt có thể đọc được một số tập tin văn bản. Từ đó các loại trình soạn thảo văn bản cho người mù được hình thành.

   Song song với các giải pháp PM là việc phát triển các giải pháp phần cứng. Người ta cũng nghĩ đến việc phát triển các cấu trúc thiết bị sao cho người mù có thể tiếp cận thuận tiện với máy tính. Tuy nhiên các giải pháp phần cứng thường đòi hỏi một hệ thống công nghệ hiện đại để đưa vào sản xuất hàng loạt. Điều kiện nước ta hiện chưa đủ để phát triển hiệu quả các loại giải pháp phần cứng này (1).

   Tiếp đến, do tin học phát triển với tốc độ quá cao. Chủng loại sản phẩm tin học ngày càng phong phú và đa dạng, đặc biệt là sự phát triển của Internet và các website. Từ một công cụ sưu tập thông tin, xử lý thông tin máy vi tính đã trở thành công cụ phổ biến thông tin cực kỳ hiệu quả. Con người cần nhiều loại trình ứng dụng hơn để phục vụ các công việc văn phòng, truyền thông, giải trí, kinh doanh... Một số người vẫn duy trì giải pháp phát triển các loại công cụ chuyên dùng như trình soạn thảo dành riêng cho người hỏng mắt, trình duyệt web cho người mù với ước mơ tạo điều kiện tiếp cận tin học cho người mù. Chính cá nhân tôi cũng đã từng suy nghĩ như vậy vào năm 2003 khi triển khai dự án Trình duyệt Sao Mai cho người mù.

   Ưu điểm của loại giải pháp này thì ít mà nhược điểm thì nhiều. Ngay khi còn ở giai đoạn beta của quá trình sản xuất trình duyệt Sao Mai, tôi đã nhận ra rằng trình duyệt Sao Mai sau khi ra đời chỉ sử dụng được 1 hoặc 2 năm. Nêú không có đầu tư nâng cấp, trình duyệt Sao Mai sẽ không thể nào theo kịp đà tiến của thiết kế web. Tiếp tục nâng cấp cũng là tiếp tục đầu tư. Vấn đề lớn nhất mà các nhóm phát triển PM cho người mù nói riêng và người khuyết tật (NKT) nói chung là tìm nguồn lực để duy trì sự phát triển nâng cấp các sản phẩm tin học. Các giải pháp cộng đồng cũng đã được nghĩ đến và triển khai thực hiện nhưng kết quả thu lượm rất hạn chế. Chẳng hạn, giải pháp tạo một nguồn LTV tình nguyện, sản phẩm ở mã nguồn mở và các giải pháp khác đều không thu được kết quả mong muốn.

   Một hạn chế khác là khi tạo những công cụ chuyên dùng cho một dạng người dùng như vậy, vấn đề huấn luyện sử dụng cũng phải được tổ chức riêng, giáo trình riêng và huấn luyện viên riêng. Những cái riêng ấy đã từng bước cô lập nhóm người dùng hỏng mắt. Họ không có nhu cầu đọc các tài liệu tin học phổ thông, vì kiến thức ấy không liên quan gì đến kỹ năng sử dụng của họ. Khi cần nâng cấp kiến thức, họ cũng chẳng thể tìm được từ các nguồn thân cận như anh em bạn bè sáng mắt của họ. Khi máy móc, PM gặp trục trặc họ phải tìm kỹ thuật viên chuyên biệt.  

   Chính vì các hạn chế vừa nêu nên tôi xin gọi tên cho giải pháp chuyên biệt là giải pháp cô lập.

   2. Giải pháp điều hòa:

   Cả thế giới đều nhận ra những hạn chế của giải pháp cô lập. Nhu cầu tiếp cận tin học đã được phân tích và duyệt xét lại. Người ta nhận ra điểm cơ bản khác biệt của người mù khi tiếp cận tin học so với người sáng là ở kênh truyền thông. Người mù không giao tiếp với máy tính bằng tín hiệu hình ảnh mà qua tín hiệu âm thanh. Thay vì tạo ra một trình soạn thảo chuyên biệt để người mù đọc các tập tin văn bản ở các dạng như tập tin .doc - .txt - .rtf v.v... Người ta phát triển giải pháp tạo ra một phần mềm đọc màn hình (screen reading software) có thể chạy trên nhiều loại ứng dụng, có chức năng soạn thảo văn bản như các loại trình soạn thảo của MSOffice và cả các loại trình ứng dụng khác chạy trên hệ điều hành Windows. Phương pháp sản xuất bao gồm một bộ đọc (speech engine) theo kiểu TTS (text-to-speech) được điều khiển bởi một phần mềm đọc.

   Đây là giải pháp hiện được xem là tối ưu. Nó tạo một đường liên lạc giữa người hỏng mắt và cộng đồng xã hội bởi mọi người đều sử dụng cùng một loại phần mềm và cùng một loại thiết bị. Người mù có thể tham khảo tài liệu hướng dẫn tin học của người sáng, có thể theo học các lớp tin học với người sáng và nếu có trở ngại họ có thể cùng cộng tác với người sáng để giải quyết trở ngại này.  

   Giải pháp này đòi hỏi có một sự phối hợp của 2 hướng:

- Với các sản phẩm tin học của người mù: cần theo kịp các tiến bộ của các sản phẩm chung. Thực ra yêu cầu này không cao lắm. Các phần mềm đọc sản xuất cách đây vài năm vẫn có thể hoạt động với các phần mềm soạn thảo mới gần đây.

- Với các sản phẩm chung của người sáng: cần có một sự điều chỉnh tối thiểu để người mù có thể dễ sử dụng. Riêng khái niệm dễ sử dụng - ngày nay gọi là có khả năng tiếp cận (accessibility) bao gồm việc sản xuất giao diện (interface) của các phần mềm soạn thảo bằng văn bản là chủ yếu. Nếu thiết kế giao diện có sử dụng hình ảnh, biểu tượng thì cần có chú thích rõ nội dung cho hình ảnh, biểu tượng này; hoặc tạo một giao diện văn bản cho người dùng phần mềm đọc màn hình tiếp cận. Ngoài ra, cũng cần có điều chỉnh trên các văn bản thông tin công cộng sao cho mọi người, kể cả người hỏng mắt có thể đọc được. Lưu ý, không chỉnh sửa với các loại tài liệu hình và tài liệu âm thanh (xem phần sau về tiếp cận văn bản).

   Do có sự phối hợp giữa 2 nhóm người dùng nên tôi xin gọi giải pháp này là giải pháp điều hoà.

   3. Nhu cầu cá biệt

   Dù đã có nhiều điều chỉnh chức năng cho nhiều nhóm người dùng khác nhau, các phần mềm chung vẫn có vẻ khó dùng với người hỏng mắt. Mặt khác một số chức năng cá biệt chỉ cần thiết cho người hỏng mắt lại không thể tích hợp vào các phần mềm chung như chức năng chuyển đổi chữ sáng sang chữ nổi, chức năng hiển thị trên màn hình chữ nổi (braille display). Tóm lại người mù cũng cần có một số phần mềm chuyên biệt để phục vụ ở mức tối thiểu. Theo nghiên cứu cho thấy nhiều người mù ở Mỹ vẫn thích dùng phần mềm soạn thảo HJPad tích hợp trong PM JAWS hơn là dùng MS Word, bởi lẽ đây là trình soạn thảo chuyên dùng cho người mù ở trình độ cơ bản. Các loại trình chuyển đổi sang chữ nổi rất cần thiết cho công tác in ấn sách chữ nổi cho người mù.

   4. Giải pháp chung

   Như ở ngành giáo dục cho NKT, ta có 2 hình thức chủ yếu là giáo dục đặc biệt và giáo dục hoà nhập. Giáo dục đặc biệt cách ly đối tượng khỏi môi trường giáo dục chung và cung cấp những kỹ năng cần thiết cho việc xã hội hóa đối tượng. Giáo dục hoà nhập huấn luyện đối tượng và cộng đồng xã hội chung sống với nhau. Trong giáo dục hoà nhập vẫn cần huấn luyện đối tượng học viên những kỹ năng tối thiểu nhằm phát triển các chức năng còn lại của NKT và bù đắp cho những chức năng bị khiếm khuyết. Từ đó, NKT có thể tham gia sử dụng các loại công cụ và dịch vụ xã hội chung với mọi người như tham gia giao thông, tham gia giáo dục, tham gia lao động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và các hình thức hoạt động xã hội khác. Các giải pháp tin học sẽ đề nghị dưới đây cũng dựa vào 2 giải pháp đã nêu trên và nhắm vào giải pháp điều hoà chức năng sử dụng, điều hoà nhu cầu và lợi ích chung để hỗ trợ NKT tham gia hoà nhập trong môi trường truyền thông và công nghệ thông tin. Qua đó, các loại công cụ hay giải pháp chuyên biệt không bị loại bỏ hoàn toàn nhưng cần ý thức giới hạn vai trò của nó để tránh xảy ra tình trạng cô lập NKT. Các giải pháp chung này xem như là những đề nghị cho việc định hướng phát triển tin học cho người hỏng mắt nói riêng và người khuyết tật nói chung.

   a. Tin học đã xoá bỏ sự khác biệt về chữ viết giữa người mù với cộng đồng chung của xã hội. Họ đã có khả năng truyền thông cho moị người với cùng một loại chữ viết. Điều này xác định quyền được tiếp cận thông tin của người mù nói riêng và các dạng tật cũng như mọi người nói chung. Xã hội cần có cái nhìn rộng mở để mọi người có thể sử dụng các tiện ích mà tin học cung cấp để các cá nhân được hoà nhập vào xã hội và được cùng xây dựng, cùng đóng góp tích cực cho xã hội.

   b. Định hướng cho việc phát triển các sản phẩm tin học hỗ trợ NKT hoà nhập xã hội nên theo các loại giải pháp mang tính điều hoà nhưng không quên sản xuất các loại sản phẩm có các chức năng phục vụ nhu cầu cá biệt tối thiểu.

  5. Kinh nghiệm quản lý dự án

   Dưới đây là kinh nghiệm xây dựng, quản lý và triển khai thực hiện các dự án tin học phục vụ đối tựơng NKT tổng hợp từ nhiều nguồn khác nhau:

   a. Vai trò đồng tham gia của nhóm đối tượng mục tiêu: một nguyên lý về hoạt động phục vụ NKT đã được rất nhiều quốc gia và tổ chức của NKT khu vực châu Á - Thái Bình Dương nêu lên như một khẩu hiệu. Đó là: NOTHING ABOUT US, WITHOUT US (tạm dịch: không có gì thuộc về chúng tôi lại thiếu sự tham gia của chúng tôi).

   Từ "chúng tôi" ở trên nói về NKT. Khi quan sát các quá trình xây dựng và triển khai một số sản phẩm tin học phục vụ NKT, chúng ta dễ dàng đi tới kết luận rằng sản phẩm nào có tỷ lệ tham gia của NKT càng nhiều thì sản phẩm ấy càng đáp ứng nhu cầu của họ tốt hơn. Nếu xem đây là quy luật thì quy luật ấy chỉ đúng ở đa số. Vì sự thành công của một sản phẩm không chỉ có yếu tố đông người mà còn cần đến nhiều yếu tố khác như tính chuyên nghiệp, tầm nhìn của người lảnh đạo và các yếu tố thời cơ, yếu tố kinh tế-xã hội khác.

   b. Thực hiện đầy đủ các bước của quá trình sản xuất như thu thập yêu cầu người dùng, nghiên cứu giải pháp hiện có và kinh nghiệm các nước đối với đề tài sắp thực hiện, tổ chức chạy thử testing sản phẩm mẫu và có điều chỉnh kịp thời.

   c. Tổ chức sưu tập tài liệu thiết kế, tài liệu lượng giá dự án đầy đủ nhằm phục vụ công tác nâng cấp sản phẩm trong tương lai. 

 

Tạp chí Công nghệ thông tin - Viễn thông - Truyền thông e-CHÍP
11A Phan Kế Bính, Quận 1, TP.HCM | ĐT: (08) 9104162 - (08) 9104165 | Email: echip@vasc.com.vn
Văn phòng thường trú tại phía Bắc: Vietnamnet Tower 4 Láng Hạ, Q.Ba Đình, Hà Nội | ĐT: (04) 7722728 - Fax: (04) 7722734