|
1. Giải pháp cô lập
Thoạt đầu, nhiều lập trình viên (LTV) phát hiện các chức năng
thần kỳ của CNTT trong việc hỗ trợ người khuyết tật nói chung và
người hỏng mắt nói riêng. Từ đó họ nghĩ đến việc phát triển
những công cụ chuyên dùng cho người mù. Các giải pháp ban đầu
thường là sản xuất các loại phần mềm chuyên dùng cho người mù.
Và giải pháp phần mềm này cho phép người hỏng mắt có thể đọc
được một số tập tin văn bản. Từ đó các loại trình soạn thảo văn
bản cho người mù được hình thành.
Song song với các giải pháp PM là việc phát triển các giải pháp
phần cứng. Người ta cũng nghĩ đến việc phát triển các cấu trúc
thiết bị sao cho người mù có thể tiếp cận thuận tiện với máy
tính. Tuy nhiên các giải pháp phần cứng thường đòi hỏi một hệ
thống công nghệ hiện đại để đưa vào sản xuất hàng loạt. Điều
kiện nước ta hiện chưa đủ để phát triển hiệu quả các loại giải
pháp phần cứng này
(1).
Tiếp đến, do tin học phát triển với tốc độ quá cao. Chủng loại
sản phẩm tin học ngày càng phong phú và đa dạng, đặc biệt là sự
phát triển của Internet và các website. Từ một công cụ sưu tập
thông tin, xử lý thông tin máy vi tính đã trở thành công cụ phổ
biến thông tin cực kỳ hiệu quả. Con người cần nhiều loại trình
ứng dụng hơn để phục vụ các công việc văn phòng, truyền thông,
giải trí, kinh doanh... Một số người vẫn duy trì giải pháp phát
triển các loại công cụ chuyên dùng như trình soạn thảo dành
riêng cho người hỏng mắt, trình duyệt web cho người mù với ước
mơ tạo điều kiện tiếp cận tin học cho người mù. Chính cá nhân
tôi cũng đã từng suy nghĩ như vậy vào năm 2003 khi triển khai dự
án Trình duyệt Sao Mai cho người mù.
Ưu điểm của loại giải pháp này thì ít mà nhược điểm thì nhiều.
Ngay khi còn ở giai đoạn beta của quá trình sản xuất trình duyệt
Sao Mai, tôi đã nhận ra rằng trình duyệt Sao Mai sau khi ra đời
chỉ sử dụng được 1 hoặc 2 năm. Nêú không có đầu tư nâng cấp,
trình duyệt Sao Mai sẽ không thể nào theo kịp đà tiến của thiết
kế web. Tiếp tục nâng cấp cũng là tiếp tục đầu tư. Vấn đề lớn
nhất mà các nhóm phát triển PM cho người mù nói riêng và người
khuyết tật (NKT) nói chung là tìm nguồn lực để duy trì sự phát
triển nâng cấp các sản phẩm tin học. Các giải pháp cộng đồng
cũng đã được nghĩ đến và triển khai thực hiện nhưng kết quả thu
lượm rất hạn chế. Chẳng hạn, giải pháp tạo một nguồn LTV tình
nguyện, sản phẩm ở mã nguồn mở và các giải pháp khác đều không
thu được kết quả mong muốn.
Một hạn chế khác là khi tạo những công cụ chuyên dùng cho một
dạng người dùng như vậy, vấn đề huấn luyện sử dụng cũng phải
được tổ chức riêng, giáo trình riêng và huấn luyện viên riêng.
Những cái riêng ấy đã từng bước cô lập nhóm người dùng hỏng mắt.
Họ không có nhu cầu đọc các tài liệu tin học phổ thông, vì kiến
thức ấy không liên quan gì đến kỹ năng sử dụng của họ. Khi cần
nâng cấp kiến thức, họ cũng chẳng thể tìm được từ các nguồn thân
cận như anh em bạn bè sáng mắt của họ. Khi máy móc, PM gặp trục
trặc họ phải tìm kỹ thuật viên chuyên biệt.
Chính vì các hạn chế vừa nêu nên tôi xin gọi tên cho giải pháp
chuyên biệt là giải pháp cô lập.
2. Giải pháp điều hòa:
Cả thế giới đều nhận ra những hạn chế của giải pháp cô lập. Nhu
cầu tiếp cận tin học đã được phân tích và duyệt xét lại. Người
ta nhận ra điểm cơ bản khác biệt của người mù khi tiếp cận tin
học so với người sáng là ở kênh truyền thông. Người mù không
giao tiếp với máy tính bằng tín hiệu hình ảnh mà qua tín hiệu âm
thanh. Thay vì tạo ra một trình soạn thảo chuyên biệt để người
mù đọc các tập tin văn bản ở các dạng như tập tin .doc - .txt -
.rtf v.v... Người ta phát triển giải pháp tạo ra một phần mềm
đọc màn hình (screen reading software) có thể chạy trên nhiều
loại ứng dụng, có chức năng soạn thảo văn bản như các loại trình
soạn thảo của MSOffice và cả các loại trình ứng dụng khác chạy
trên hệ điều hành Windows. Phương pháp sản xuất bao gồm một bộ
đọc (speech engine) theo kiểu TTS (text-to-speech) được điều
khiển bởi một phần mềm đọc.
Đây là giải pháp hiện được xem là tối ưu. Nó tạo một đường liên
lạc giữa người hỏng mắt và cộng đồng xã hội bởi mọi người đều sử
dụng cùng một loại phần mềm và cùng một loại thiết bị. Người mù
có thể tham khảo tài liệu hướng dẫn tin học của người sáng, có
thể theo học các lớp tin học với người sáng và nếu có trở ngại
họ có thể cùng cộng tác với người sáng để giải quyết trở ngại
này.
Giải pháp này đòi hỏi có một sự phối hợp của 2 hướng:
- Với các sản phẩm tin học của người mù: cần theo kịp các tiến
bộ của các sản phẩm chung. Thực ra yêu cầu này không cao lắm.
Các phần mềm đọc sản xuất cách đây vài năm vẫn có thể hoạt động
với các phần mềm soạn thảo mới gần đây.
- Với các sản phẩm chung của người sáng: cần có một sự điều
chỉnh tối thiểu để người mù có thể dễ sử dụng. Riêng khái niệm
dễ sử dụng - ngày nay gọi là có khả năng tiếp cận
(accessibility) bao gồm việc sản xuất giao diện (interface) của
các phần mềm soạn thảo bằng văn bản là chủ yếu. Nếu thiết kế
giao diện có sử dụng hình ảnh, biểu tượng thì cần có chú thích
rõ nội dung cho hình ảnh, biểu tượng này; hoặc tạo một giao diện
văn bản cho người dùng phần mềm đọc màn hình tiếp cận. Ngoài ra,
cũng cần có điều chỉnh trên các văn bản thông tin công cộng sao
cho mọi người, kể cả người hỏng mắt có thể đọc được. Lưu ý,
không chỉnh sửa với các loại tài liệu hình và tài liệu âm thanh
(xem phần sau về tiếp cận văn bản).
Do có sự phối hợp giữa 2 nhóm người dùng nên tôi xin gọi giải
pháp này là giải pháp điều hoà.
3. Nhu cầu cá biệt
Dù đã có nhiều điều chỉnh chức năng cho nhiều nhóm người dùng
khác nhau, các phần mềm chung vẫn có vẻ khó dùng với người hỏng
mắt. Mặt khác một số chức năng cá biệt chỉ cần thiết cho người
hỏng mắt lại không thể tích hợp vào các phần mềm chung như chức
năng chuyển đổi chữ sáng sang chữ nổi, chức năng hiển thị trên
màn hình chữ nổi (braille display). Tóm lại người mù cũng cần có
một số phần mềm chuyên biệt để phục vụ ở mức tối thiểu. Theo
nghiên cứu cho thấy nhiều người mù ở Mỹ vẫn thích dùng phần mềm
soạn thảo HJPad tích hợp trong PM JAWS hơn là dùng MS Word, bởi
lẽ đây là trình soạn thảo chuyên dùng cho người mù ở trình độ cơ
bản. Các loại trình chuyển đổi sang chữ nổi rất cần thiết cho
công tác in ấn sách chữ nổi cho người mù.
4. Giải pháp chung
Như ở ngành giáo dục cho NKT, ta có 2 hình thức chủ yếu là giáo
dục đặc biệt và giáo dục hoà nhập. Giáo dục đặc biệt cách ly đối
tượng khỏi môi trường giáo dục chung và cung cấp những kỹ năng
cần thiết cho việc xã hội hóa đối tượng. Giáo dục hoà nhập huấn
luyện đối tượng và cộng đồng xã hội chung sống với nhau. Trong
giáo dục hoà nhập vẫn cần huấn luyện đối tượng học viên những kỹ
năng tối thiểu nhằm phát triển các chức năng còn lại của NKT và
bù đắp cho những chức năng bị khiếm khuyết. Từ đó, NKT có thể
tham gia sử dụng các loại công cụ và dịch vụ xã hội chung với
mọi người như tham gia giao thông, tham gia giáo dục, tham gia
lao động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và các hình thức hoạt động
xã hội khác. Các giải pháp tin học sẽ đề nghị dưới đây cũng dựa
vào 2 giải pháp đã nêu trên và nhắm vào giải pháp điều hoà chức
năng sử dụng, điều hoà nhu cầu và lợi ích chung để hỗ trợ NKT
tham gia hoà nhập trong môi trường truyền thông và công nghệ
thông tin. Qua đó, các loại công cụ hay giải pháp chuyên biệt
không bị loại bỏ hoàn toàn nhưng cần ý thức giới hạn vai trò của
nó để tránh xảy ra tình trạng cô lập NKT. Các giải pháp chung
này xem như là những đề nghị cho việc định hướng phát triển tin
học cho người hỏng mắt nói riêng và người khuyết tật nói chung.
a. Tin học đã xoá bỏ sự khác biệt về chữ viết giữa người mù với
cộng đồng chung của xã hội. Họ đã có khả năng truyền thông cho
moị người với cùng một loại chữ viết. Điều này xác định quyền
được tiếp cận thông tin của người mù nói riêng và các dạng tật
cũng như mọi người nói chung. Xã hội cần có cái nhìn rộng mở để
mọi người có thể sử dụng các tiện ích mà tin học cung cấp để các
cá nhân được hoà nhập vào xã hội và được cùng xây dựng, cùng
đóng góp tích cực cho xã hội.
b. Định hướng cho việc phát triển các sản phẩm tin học hỗ trợ
NKT hoà nhập xã hội nên theo các loại giải pháp mang tính điều
hoà nhưng không quên sản xuất các loại sản phẩm có các chức năng
phục vụ nhu cầu cá biệt tối thiểu.
5. Kinh nghiệm quản lý dự án
Dưới đây là kinh nghiệm xây dựng, quản lý và triển khai thực
hiện các dự án tin học phục vụ đối tựơng NKT tổng hợp từ nhiều
nguồn khác nhau:
a. Vai trò đồng tham gia của nhóm đối tượng mục tiêu: một nguyên
lý về hoạt động phục vụ NKT đã được rất nhiều quốc gia và tổ
chức của NKT khu vực châu Á - Thái Bình Dương nêu lên như một
khẩu hiệu. Đó là: NOTHING ABOUT US, WITHOUT US (tạm dịch: không
có gì thuộc về chúng tôi lại thiếu sự tham gia của chúng tôi).
Từ "chúng tôi" ở trên nói về NKT. Khi quan sát các quá trình xây
dựng và triển khai một số sản phẩm tin học phục vụ NKT, chúng ta
dễ dàng đi tới kết luận rằng sản phẩm nào có tỷ lệ tham gia của
NKT càng nhiều thì sản phẩm ấy càng đáp ứng nhu cầu của họ tốt
hơn. Nếu xem đây là quy luật thì quy luật ấy chỉ đúng ở đa số.
Vì sự thành công của một sản phẩm không chỉ có yếu tố đông người
mà còn cần đến nhiều yếu tố khác như tính chuyên nghiệp, tầm
nhìn của người lảnh đạo và các yếu tố thời cơ, yếu tố kinh tế-xã
hội khác.
b. Thực hiện đầy đủ các bước của quá trình sản xuất như thu thập
yêu cầu người dùng, nghiên cứu giải pháp hiện có và kinh nghiệm
các nước đối với đề tài sắp thực hiện, tổ chức chạy thử testing
sản phẩm mẫu và có điều chỉnh kịp thời.
c. Tổ chức sưu tập tài liệu thiết kế, tài liệu lượng giá dự án
đầy đủ nhằm phục vụ công tác nâng cấp sản phẩm trong tương lai. |