TRONG NHÀ NGOÀI PHỐ

 

Giải thưởng “Quả cầu vàng” 2006 cho CNTT


Hiệp sĩ CNTT Nguyễn Công Hùng (trên xe lăn) nhận giải Quả Cầu Vàng 2006

Sáng 21-1, tại Đại học Quốc gia Hà Nội, Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và Bộ Khoa học và Công nghệ đã tổ chức lễ trao giải thưởng Công nghệ Thông tin Thanh niên 2006 cho 45 bạn trẻ tiêu biểu trong lĩnh vực CNTT trên cả nước.
Giải “Quả cầu vàng” đã được trao cho 7 thanh niên xuất sắc trong lĩnh vực CNTT: Hiệp sĩ CNTT 2005 Nguyễn Công Hùng (Nghệ An); kỹ sư Đỗ Việt Bình (Viện CNTT, Trung tâm khoa học kỹ thuật – công nghệ quân sự); thạc sĩ Tăng Minh Tuấn (Viện Tự động hoá kỹ thuật quân sự); tiến sĩ Bùi Thế Duy (giảng viên Khoa CNTT, Đại học Quốc gia Hà Nội); thạc sĩ Đinh Hải Minh (Công ty Tin học Bạch Kim); thầy giáo Đỗ Đức Đông (trường THPT chuyên Nguyễn Huệ, Hà Tây) cùng học trò cũ là Đặng Thanh Tùng (sinh viên lớp cử nhân tài năng Trường Đại học Bách khoa Hà Nội).
38 nữ sinh viên CNTT đạt điểm trung bình năm học trên 8 điểm đã được trao thưởng tại buổi lễ.
Đây là năm thứ 4 giải thưởng “Quả cầu vàng” được tổ chức với mục đích góp phần thúc đẩy phong trào học tập, nghiên cứu, ứng dụng, phát hiện, bồi dưỡng các tài năng trẻ trong lĩnh vực CNTT. Tính đến nay, đã có 35 tài năng trẻ nhận giải “Quả cầu vàng” và 248 nữ sinh viên xuất sắc (tính từ năm 1998), được nhận phần thưởng trong lĩnh vực CNTT.

Tin, ảnh: Hà Lương

 

Chàng giám đốc "kẻ thù" của virus
Mỹ Quyên

 

Nguyễn Hồng Văn tự mày mò nghiên cứu về máy tính từ khi là sinh viên khoa Quản trị kinh doanh Trường ĐHDL Kỹ thuật công nghệ TP.HCM. Từ năm 1994, anh đã sử dụng những chiếc máy tính an toàn do chính mình cài đặt.
Ngay sau khi tốt nghiệp ĐH, Hồng Văn đã đứng ra thành lập Công ty cổ phần khai thác tiềm năng máy tính Việt Kiến Tạo. Chàng giám đốc trẻ quyết tâm tiếp tục nghiên cứu công trình mình hằng ấp ủ và cho đến tháng 10.2006, hệ thống miễn nhiễm virus máy tính của Hồng Văn được hoàn thiện. Hồng Văn quyết định chọn Trung tâm an ninh mạng ĐH Bách khoa Hà Nội để kiểm tra hệ thống này.


Hồng Văn (trái) đang chờ test hệ thống tại Trung tâm an ninh mạng ĐH Bách khoa Hà Nội

"Thú thực, bạn bè mình không ai tin là có một hệ thống "trơ gan trước virus" như thế. Lại còn nói mình hoang tưởng. Nhưng kết quả sau khi kiểm tra thật tuyệt vời, bọn virus đã phải chào thua mình!". Sử dụng những công cụ có sẵn của Microsoft, Hồng Văn đã sáng tạo ra 3 lớp bảo vệ: Lớp thứ nhất (phòng thủ): ngăn chặn không cho virus, web có mã độc hại tự động xâm nhập vào máy tính. Lớp thứ 2 (phục hồi): Nếu có sự cố ngoài ý muốn, người dùng có thể yêu cầu phục hồi lại hệ thống gốc ban đầu mà không hề bị mất dữ liệu. Lớp thứ 3 (ngăn chặn): Ngăn chặn các hành vi ngoài ý muốn của người hoạch định hệ thống như người dùng vô tình hay cố tình kích hoạt virus, cài thêm phần mềm không được phép. Lớp này có thể ngăn chặn các virus vào máy tính. "Đối với các hệ thống máy tính cố định, ít thay đổi, không có nhu cầu thêm những ứng dụng khác thì hệ thống này rất tiện dụng và an toàn tuyệt đối. Tuy nhiên với hệ thống máy tính luôn có nhu cầu mở rộng, thay đổi, linh hoạt với những điều kiện cụ thể thì việc đặt lệnh như thế sẽ tốn thời gian cho người quản trị" - Trưởng phòng Virus thuộc Trung tâm an ninh mạng ĐH Bách khoa Hà Nội Vũ Ngọc Sơn nhận xét.

Được Văn phòng Microsoft tại Việt Nam ủng hộ, Hồng Văn đã có thêm tự tin để quyết định đưa hệ thống đến người tiêu dùng. "Với hệ thống có khả năng tự động phục hồi và miễn nhiễm trước mọi virus này, tôi mong muốn máy tính sẽ trở thành "chiếc máy trợ não điện tử" chứ không phải là một cái máy đánh chữ và truyền tin thông thường".
Hồng Văn cho biết, quy trình này sẽ được cung cấp miễn phí đến các công ty phần mềm cũng như dịch vụ tin học khác (chỉ mất chi phí chuyển giao công nghệ), không thu tiền từ người dùng cuối.

 

(Nguồn: http://www.thanhnien.com.vn/Thegioitre/2006/11/22/171116.tno)

 

"Phép lạ" Asakawa
mang các website đến với người khiếm thị

 

Một lập trình viên mù đang tìm cách giúp cho những người bị suy giảm thị lực hay khiếm thị có thể lướt web – số người dùng đặc biệt này đang ngày một tăng do sự già nua của dân số Nhật Bản.

Nhờ… luật hóa!

Căn phòng khiêm tốn nằm tận cùng trong dãy các phòng thí nghiệm của hãng máy tính IBM chi nhánh Nhật Bản, đặt tại phía Nam Tokyo (Nhật Bản), vang động bởi một giọng nữ được tạo ra bởi máy tính: “Công việc”, rồi nó đọc tiếp: “Cá nhân. Bất động sản. Cho thuê mướn. Xe cộ”... Đó là kết quả của cô Chieko Asakawa, 45 tuổi, nhà nghiên cứu hàng đầu của hãng IBM trong lĩnh vực giúp người mù tiếp cận được với Internet.

Hình như cô đang đi nhầm vào một mục tin mà cô không mong muốn khi lướt Web. “Đến rìa rồi”, máy tính thông báo bằng một giọng nam. “Ra đến rìa rồi”, nó lặp lại. Cô Asakawa gõ nhanh trên bàn phím Braille (hệ thống chữ nổi dành cho người mù) một cách bực bội, rồi cô bỏ qua rất nhiều từ khi nó chưa kịp phát âm xong. Một cách kiên trì, cô tiếp tục đi xuống các hàng văn bản bên dưới. Nhưng thật ra mục tin mà cô muốn đọc chỉ nằm cách đó vài cen-ti-mét về phía bên phải - với người sáng mắt thì chỉ cần một cái nhấp chuột đơn giản chứ không cần phải lần mò như vậy.

Cuối cùng, cô cũng tạm ngừng và mỉm cười. “Những thông tin vừa rồi đối với bạn có thể chẳng là gì nhưng với người mù chúng tôi, nó đã là một lượng thông tin rất đáng kể.” - cô nói. Asakawa đã trải qua tám năm làm việc trong lĩnh vực nghiên cứu và làm cho Internet trở nên thân thiện và dễ tiếp cận hơn cho những người khiếm thị. Vào năm 1997, nhóm nghiên cứu của cô tại IBM chi nhánh Nhật Bản đã lần đầu tiên trên thế giới đưa ra một trình duyệt web được thiết kế đặc biệt có khả năng phát âm nội dung của các trang web. Và vào tháng 7 vừa qua, nhóm của cô đã phát hành một phần mềm giúp cho những người thiết kế trang web chuyển đổi định dạng các trang web của mình sao cho phù hợp và “dễ đọc” đối với những người mắt kém, khiếm thị hay mắt không còn nhìn thấy gì nữa.

 


Bàn phím chữ Braille của IBM

Đây là một vấn đề nghiêm túc và quan trọng. Internet đang ngày càng trở thành một nguồn tài nguyên thông tin và cung cấp nhiều dịch vụ và tiện ích hết sức quan trọng, đa dạng và phong phú: Từ bỏ phiếu cho các cuộc bầu cử hay điền và nộp các bản khai thuế hay thậm chí ngồi ở nhà mà vẫn kêu được món ăn mà mình ưa thích từ một nhà hàng. Đối với người mù, đó vừa là một sự may mắn vừa là một sự nguy hiểm. Internet cho phép họ tự mình chọn làm được nhiều điều mà lẽ ra trước đây họ phải cần rất nhiều đến sự giúp đỡ, ví dụ như đi mua sắm. Nhưng họ cũng có thể hoàn toàn bị cô lập ra khỏi kho dữ liệu quan trọng này nếu các thông tin trên Internet này quá khó khăn để họ có thể tiếp cận được. Bên cạnh đó là vấn đề tuổi tác già nua của dân số Nhật Bản đã khiến cho số người khiếm thị tăng vọt.

 

Tại một số quốc gia, trong đó có cả Mỹ và Anh, đã có luật quy định cụ thể về tính dễ truy cập và sử dụng của một số loại trang web cho một số đối tượng cụ thể. Tháng 6 vừa qua, chính phủ Nhật đã đưa ra các quy định cụ thể về tính dễ sử dụng và bắt buộc các trang web của chính phủ phải áp dụng. Nhưng nhiều khảo sát cho thấy rằng các công ty Nhật – vì sự sống còn của mình - thậm chí đã tiến xa hơn cả chính phủ trong việc tạo ra các trang web mang tính dễ sử dụng. “Với số người già đang gia tăng nhanh chóng tại Nhật, nếu công ty nào không tạo ra được các trang web mang tính dễ sử dụng cho riêng mình thì số người truy cập vào đó sẽ giảm rất nhiều.” - Nobuaki Arima – người giám sát các vấn đề về truy cập tại Bộ Viễn thông của Nhật cho biết.

Chuyện Asakawa: "Khó không có nghĩa là không thể"

Đối với cô Asakawa, con đường dẫn cô đến với việc phát triển các trình duyệt web cho người mù thật sự là một bước ngoặt. Cho đến những năm đầu ở trường trung học, mắt của cô vẫn bình thường. Lúc đó, Asakawwa là một cô gái trẻ trung rất yêu thích thể thao – không thích học tập mấy mà cứ mơ ước trở thành một vận động viên. Vào năm lớp 11, cô gặp tai nạn trong khi bơi lội, đầu cô bị đập vào mép hồ bơi đã làm tổn thương đến thần kinh thị giác của cô. Ba năm sau thì cô hoàn toàn bị mù. Một Asakawa quá trẻ vào lúc đó đã phải suy tính lại cho cuộc đời của mình. Con đường thể thao đã đóng; cô chỉ còn duy nhất một lựa chọn là sách vở. Nhưng cô cũng gặp rất nhiều trở ngại vì cô không bao giờ có thể đọc chữ nổi Braille nhanh như những người bị mù bẩm sinh và phải hết sức nỗ lực trong một hệ thống trì trệ của nước Nhật khi đó. Vì thế, ở trường đại học, cô đã chọn chuyên ngành Anh văn, vì dù sao thì việc đọc và phát âm cũng còn dễ dàng hơn và hi vọng thứ tiếng này sẽ giúp cô dễ tìm được một việc làm.

Trải qua một vài năm tại trường ngôn ngữ dành cho người mù, học lập trình với nhiều ngôn ngữ lập trình cổ lỗ khác nhau cho hệ máy tính chủ kiểu cũ sử dụng băng từ và phiếu đục lỗ. Để đọc được các dữ liệu in ra từ máy tính dưới dạng lỗ này, cô phải dùng một thiết bị để chuyển các lỗ thành các gờ nổi để tay cô có thể sờ thấy được. Đó thật sự là một cuộc vật lộn. “Lúc đó, thật hết sức khó khăn để một người mù có thể trở thành một lập trình viên máy tính. Khó chứ không có nghĩa là không thể!” - cô Asakawa hồi tưởng.

 


Nữ lập trình viên Chieko Asakawa, người tạo nên "phép lạ" mang các website vào đời sống người khiếm thị

Vào năm 1985, Asakawa gia nhập vào hãng IBM và khi đó với cô: “Thế giới của tôi đã hoàn toàn thay đổi”. Lúc đó, IBM đã là người dẫn đầu trong việc phát triển các kỹ thuật nhằm giúp ích những người tàn tật. Họ đang tập trung hướng tới một trong những phần mềm đầu tiên có khả năng phát âm các nội dung được hiển thị trên màn hình máy tính. Khi cô Asakawa gia nhập vào IBM, các nhà nghiên cứu của hãng này đang tìm cách chuyển các nội dung in từ máy tính thành chữ Braille ra máy in cho người khiếm thị. Cô đã bắt đầu bằng việc phát triển một phần mềm cho phép những người tình nguyện vốn vẫn thường dùng tay để đọc chữ Braille có thể bắt máy tính làm thay cho họ việc này.

 

Khoảng giữa thập niên 1990, cô bắt đầu tập tành lướt Internet khi đó vẫn còn rất sơ khai, sử dụng kết hợp hai phần mềm; Netscape để lướt Web và phần mềm của IBM để đọc lên những gì có trên màn hình. Cô Asakawa rất thích thú với các thông tin có được từ các trang web, tuy nhiên cô cũng vấp phải nhiều khó khăn. Phần mềm đọc màn hình lúc đó chỉ đọc được tiếng Anh. Hệ thống khi đó đang được chuẩn hoá nên rất rối rắm – sự tương hợp giữa các chương trình máy tính và hệ điều hành – đều rất khó thiết lập. Các dạng màn hình có nội dung đầy tràn hay vượt quá trang màn hình làm cho phần mềm phát âm hoạt động thiếu chính xác. Và do phần mềm được vận hành và đọc văn bản theo kiểu từ trái qua phải và từ trên xuống dưới nên khi đụng các bảng biểu với các cột dọc là nó lại bị lỗi, cứ lắp ba lắp bắp.

Asakawa quyết định phải phát triển một phần mềm được thiết kế chuyên biệt để có thể hiểu được các đoạn mã điều khiển và định dạng ẩn trong các trang web.

Cô thêm vào đó các âm báo giúp cho trình duyệt hoạt động tốt hơn, như việc sử dụng giọng nam để phát âm văn bản và giọng nữ cho các liên kết. Vào năm 1997, cô giúp đưa ra phần mềm lần đầu tiên đọc được nội dung của trang web tiếng Nhật cho IBM. Rồi phiên bản tiếng Anh – và tiếp theo sau là bằng chín ngôn ngữ khác.

Cùng lúc đó, Asakawa đã nhận thấy một vấn đề khác: Mặc dù số lượng các trang web đã tăng lên rất nhiều, nhưng số các trang web mà phần mềm của cô có thể đọc được ngày càng giảm thiểu. Đó là vì những nhà thiết kế web ngày càng lồng vào đó nhiều hình ảnh, chuyển động và các thiết kế bay bổng làm cho phần mềm chủ yếu dùng để đọc văn bản của cô không tài nào “đọc” ra các hình ảnh và chuyển tải đến cho người nghe các hình tượng bay bổng đó được.

Cô ước tính rằng phần mềm đọc trang web do mình tạo ra có thể giúp hiểu được hầu hết tất cả các trang web mà cô từng thử nghiệm trong những năm 1996, song nay thì tỉ lệ các trang web cho phép cô đọc và hiểu được đã giảm xuống chỉ còn khoảng một nửa. Nếu cứ tiếp tục với chiều hướng này, phần mềm đọc trang web của cô đến năm 2010 chỉ còn có thể đọc và hiểu được... 5% các trang web mà thôi, do: “Họ đang quá chú trọng đến vẻ bề ngoài và hiệu ứng hình ảnh gây ra của các trang web, nên trình duyệt phát âm của tôi không thể nào diễn đạt nổi”.

Để minh hoạ, bạn hãy thử tinh nghịch bắt phần mềm phát âm này đọc thử trang web của Công viên Giải trí khổng lồ Paramount’s Great America. Phần mềm sẽ chăm chú đọc hết các đề mục được sắp xếp theo trình tự thời gian nhưng lại bỏ qua phần giới thiệu màn trình diễn hết sức sôi động của Crocodile Dundee (bộ phim "Cá sấu Dundee" với diễn viên người Úc nổi tiếng) vì nó được quảng cáo với một... hình ảnh đầy màu sắc chứ không phải là văn bản.

Một khó khăn gần đây còn là các biện pháp chống thư rác. Một người mù cố gắng để đăng ký sử dụng dịch vụ thư điện tử miễn phí của Yahoo! sẽ bị lúng túng và mắc kẹt ở phần cuối khi việc đăng ký yêu cầu họ “Nhập vào mã được thể hiện trong khung bên dưới” - tiếp theo đó là một sự im lặng và không có hướng dẫn nào được đưa ra thêm. Người bình thường sẽ thấy một hình ảnh của văn bản bị làm cho méo mó và cứ theo đó mà nhập vào ô theo yêu cầu. Kỹ thuật này hiện nay đang được sử dụng để chống lại các công cụ tìm kiếm và đăng ký dịch vụ một cách tự động, sau đó xâm nhập và dùng danh bạ của chính dịch vụ đó để gửi thư rác đến cho các khách hàng, ông Judy Brewer – giám đốc của Sáng kiến Truy cập Web thuộc Công ty Chuyên viên Thiết kế Internet - tiêu chuẩn World Wide Web Consortium, cho biết.

Câu trả lời từ Asakawa là: Chương trình được phát hành trong tháng 7 qua cho phép những nhà thiết kế web thấy được một cách sinh động mức độ dễ dàng truy cập của các trang web của họ ra sao đối với người khiếm thị. Cứ chạy thử chương trình và nó sẽ cho họ biết: Những khu vực của trang web có nền màu sáng có nghĩa là người khiếm thị sẽ truy cập tốt đến đó, những khu vực có thông tin khó truy cập tuỳ theo mức độ sẽ có màu sậm dần cho đến tối đen, làm cho người thiết kế trang web cũng không thể đọc được – nhờ vậy mà họ sẽ cải tiến lại trang web của mình cho phù hợp với người khiếm thị hơn. Chương trình này cũng tính toán và cho biết mất bao nhiêu thời gian để phần mềm đọc trang web đọc xong các thông tin có trong trang đó.

Cô Asakawa cho biết: Phần lớn các khó khăn trên đều có thể được giải quyết một cách hết sức đơn giản. Các hình ảnh có thể được kết hợp hay đi kèm cùng với văn bản chú thích diễn giải, ngoài ra các điểm đánh dấu phát ra âm thanh nếu được bố trí tốt trong trang web cũng có thể giúp người sử dụng khiếm thị xác định và di chuyển nhanh chóng đến phần mà họ muốn truy cập đến của trang web. Cô cũng đang thực hiện một nghiên cứu sơ bộ trong việc sử dụng xúc giác để thu hút sự chú ý của người mù, cũng giống với việc các màu sắc ảnh hưởng đến sự chú ý của người sáng mắt.

Asakawa hy vọng các nghiên cứu thuộc loại này cũng sẽ hữu ích đối với những người sáng mắt – nhất là khi mà mắt của họ đang bận chăm chú làm việc khác - ví dụ như khi họ đang lái xe.

“Người bình thường chỉ dùng mắt và rất ít khi dùng đến xúc giác của mình, thật là phung phí biết bao!” - Asakawa cười và nói.

 

(Nguồn: http://www2.vietnamnet.vn/cntt/2004/10/333731/)

 

Định hướng di chuyển cho người khiếm thị
Lê Dân Bạch Việt

 

Nếu quan sát kỹ trẻ khoảng 3, 4 tháng tuổi chơi với đồ chơi, ta sẽ thấy khi nhìn hay nghe tiếng của vật lạ, trẻ luôn quay mặt về hướng có nguồn sáng hay âm thanh và đưa tay sờ hay nắm bắt. Đó là những biểu hiện về định hướng và di chuyển đầu tiên.

Nếu trẻ bị suy giảm thị lực hay thính lực thì sẽ ảnh hưởng đến việc phối hợp với xúc giác trong việc với, nắm bắt vật. Nhưng qua luyện tập như thế nào để có thể cải thiện được khả năng của thị giác qua sự luyện tập nhìn và phối hợp giữa thính giác, xúc giác và phần còn lại của thị giác để định vị mọi vật đang cố định hay đang di chuyển trong không gian rồi tự mình di chuyển tới và nắm bắt. Khi lớn lên cũng vận dụng tất cả các giác quan trong đó có phần còn lại của thị giác để di chuyển trong nhà và ngoài đường với người dẫn dắt, tự mình di chuyển độc lập với gậy hay với chó dẫn đường là lĩnh vực nghiên cứu của bộ môn Liệu pháp về định hướng và di chuyển cho người khiếm thị (Orientation and mobility therapy for persons with visual impairment), gọi tắt là O&M.

Đào tạo chuyên viên
 


Hướng dẫn lên cầu thang...

Chuyên viên về định hướng di chuyển không chỉ cần có kiến thức về kỹ thuật đi gậy như vẫn thường được nhìn nhận một cách đơn giản ở nước ta từ nhiều năm qua. Những chuyên viên này phải có kiến thức sâu về ảnh hưởng của bệnh mắt trong sinh hoạt hàng ngày để phục vụ cho việc di chuyển, kiến thức, quan sát và làm đánh giá thị lực chức năng (functional visual assessment); về môi trường sinh hoạt và giao thông; kiến thức về các khuyết tật khác ảnh hưởng tới việc vận động cơ thể khi di chuyển như thính giác, giác quan vận động, tâm lý, và phát triển thể chất. Và tất nhiên, họ phải biết phương pháp hướng dẫn cách sử dụng các thiết bị điện tử dành cho người khiếm thị để định hướng khi di chuyển như gậy siêu âm, walkmate, kể cả thiết bị định vị toàn cầu GPS cho người khiếm thị v.v... Cũng có những chứng bệnh gây ảnh hưởng tới thị giác và di chuyển như tiểu đường. Một lĩnh vực khác là làm mô hình với không gian 3 chiều để người khiếm thị hình dung được cấu trúc hình học của môi trường di chuyển, cũng như cách tự giải quyết khó khăn khi di chuyển trong môi trường đó, cả ở trong nhà và ngoài đường.


Ở Hoa Kỳ, các ngành học liệu pháp về định hướng và di chuyển cho người khiếm thị (O&M) được chia làm 2 mức độ: mức huấn luyện viên (O&M instructor) và mức chuyên viên (specialist - có trình độ thạc sĩ). Từ năm 1959, Đại học Boston là trường đại học đầu tiên đào tạo thạc sĩ ngành O&M (nay đã ngưng đào tạo) và một sau có thêm Đại học Western Michigan (WMU). Pennsylvania college of Optometry (PCO) là trường đại học chuyên về nhãn khoa đầu tiên ở Mỹ, nhưng đến năm 1970 mới có ngành O&M. Ngoài O&M cho người mù, mù đa tật, PCO còn có thế mạnh là O&M cho người suy giảm thị lực.
 


... và băng qua đường.

Tháng 4 năm 1997, ông Rodney Kossick, một người tốt nghiệp thạc sĩ tại trường đại học WMU đã đến Sài Gòn để dạy 2 khoá (khoá 1 có ba học viên và khoá 2 là năm người), mỗi khoá 6 tháng trong dự án Phục hồi chức năng. Nội dung khóa học dựa theo quyển Cơ sở của định hướng và di chuyển do AFB Press xuất bản (trang 635, bản in lần thứ hai, năm 2001) của hai tác giả Blasch và Weiner và bài viết của Rodney Kossick đăng trên tạp chí American Workers for the Blind năm 1970. Có tám người được đào tạo nhưng chỉ có cô Đào Kim Phụng và anh Hoàng Văn Tuấn đã gắn bó liên tục từ năm 1967 đến nay trong việc huấn luyện định hướng di chuyển cho người mù và đã từng giúp Hội Người Mù Việt Nam giới thiệu O&M với cộng đồng vào năm 1986. Chúng tôi, những người khiếm thị dù không phải là học viên của họ vẫn luôn cảm phục về tinh thần làm việc, cống hiến âm thầm của họ ròng rã gần 40 năm qua.

 

Liệu pháp O&M

O&M giúp định hướng trong không gian cho người khiếm thị bẩm sinh và cả những người cao tuổi suy giảm thị lực, kể cả người khiếm thị đa tật. Liệu pháp O&M không chỉ giới hạn trong việc giúp người khiếm thị qua việc sử dụng và kết hợp tất cả các giác quan còn lại của mình kể cả thị giác mà còn góp phần phát triển trí thông minh của trẻ, phục hồi chức năng cho người cao tuổi qua việc nhận thức tương tác không gian và phương hướng giữa cá nhân và môi trường chung quanh; cá nhân đối với đồ vật trong môi trường không gian và quan hệ không gian phương hướng tương tác giữa các vật khác nhau trong môi trường để hình dung được sơ đồ di chuyển trong trí, tổ chức di chuyển sao cho có hệ thống và khoa học.

Ví dụ: khi một người khiếm thị muốn di chuyển từ bên ngoài vào một hành lang và văn phòng. Nếu ở môi trường đã quen thuộc, anh ta phải hình dung trước mình sẽ dò gậy dọc bờ tường hành lang tới đâu sẽ quẹo, quẹo phải hay trái, cánh cửa thứ mấy sẽ đến căn phòng đó. Muốn vậy phải nghe tiếng gậy chạm vào cửa (phân biệt cửa thứ mấy, cửa sắt hay cửa gỗ), khi đến chổ quẹo, ngoài cảm giác dò gậy dọc bờ thường phải nghe tiếng gió thoảng bên tai để biết chỗ quẹo và dùng tay sờ tìm chốt cửa. Nếu vào phòng lạ thì nghe cảm giác xem phòng thế nào qua âm thanh dội (echolocation) và dùng tay sờ chốt cửa, bàn ghế.

Nếu còn thấy đôi chút, anh ta sẽ nhìn như thế nào cho phù hợp? Điều kiện ánh sáng nào sẽ thuận lợi cho anh ta di chuyển theo tình trạng bệnh mắt mà anh ta đang mắc phải. Khi di chuyển hay băng qua giao lộ, phải dùng đôi tai của mình cộng với phần còn lại của thị giác phân tích có bao nhiêu luồng xe (ngã 3, 4 hay ngã 5) hướng nào đang chạy, hướng nào đang dừng chờ; quyết định khi nào có thể băng qua đường và khi băng cũng phải nghe tiếng xe đang chạy cùng chiều hay ngược chiều để giữ được hướng đi đúng. Và nhất thiết, người huấn luyện phải tập cho học viên phân tích xe và dẫn học viên qua tất cả các góc theo chiều kim đồng hồ và ngược chiều kim đồng hồ vừa để học viên luyện mắt và tai, gậy, vừa tạo tâm lý an tâm, tự tin trước khi từng bước tập cho học viên tự mình băng qua đường. Nếu tâm lý quá căng thẳng sẽ khiến học viên không suy nghĩ được khi phân tích giao lộ (freezing).

Thực trạng cần quan tâm

Hiện nay, khi nguy cơ về tai nạn giao thông ngày càng tăng, ý thức của người tham gia giao thông về việc nhường đường cho người khiếm thị với cây gậy trắng trên đường phố còn quá thấp; nhận thức về định hướng và di chuyển cho người khiếm thị vẫn chưa được quan tâm ngay trong các trường khiếm thị và cả hội người mù. Tại nhiều thành phố lớn ở nước ta, trẻ sáng mắt thường được phụ huynh đưa đón tận cổng trường thì một số trẻ mù vẫn phải tự đi bộ đến trường học, hàng ngày đối mặt với nguy cơ tai nạn giao thông luôn rình rập. Ngoài ra, mảng hỗ trợ người cao tuổi mắt kém và trẻ em trước tuổi đi học về định hướng và di chuyển cho họ thì gần như không có, nên nhu cầu huấn luyện viên O&M là rất lớn. Riêng TP.HCM, chỉ trong 6 tháng đầu năm 2006 đã xảy ra 963 tai nạn giao thông làm 724 người thiệt mạng và 670 khác bị thương (báo cáo sơ kết công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông 9 tháng đầu năm 2006 và tháng an toàn giao thông tháng 9-2006 gửi UBND TP HCM ngày 11 tháng 10 của Ban an toàn giao thông thuộc Sở Giao thông – Công chánh).

Trong bài viết này, chúng tôi không thể giới thiệu tất cả các khía cạnh của môn Liệu pháp định hướng di chuyển. Chỉ mong bạn đọc có chút khái niệm về nó và năm 2007 tới, khi đánh dấu 40 năm bộ môn Định Hướng có mặt tại Việt Nam, hy vọng sẽ có một bước chuyển biến nhỏ trong xã hội. Trong thực tế hiện nay, giao thông tại các thành phố lớn ở nước ta thật không đơn giản. Bạn hãy nhìn những hình ảnh dưới đây và sau đó nhắm mắt lại để tưởng tượng ra những thách thức mà các em học sinh khiếm thị và giáo viên môn Định hướng vẫn gặp phải hàng ngày trên đường phố.


“Thầy ơi! lối nào cho chúng em đi bộ đây?”