|
|
|
TRONG
NHÀ NGOÀI PHỐ |
|
|
|
Giải thưởng “Quả cầu vàng”
2006 cho CNTT |
|

Hiệp sĩ CNTT Nguyễn Công Hùng (trên xe lăn) nhận giải Quả Cầu
Vàng 2006 |
Sáng 21-1, tại Đại học Quốc gia Hà Nội, Trung ương Đoàn TNCS Hồ
Chí Minh và Bộ Khoa học và Công nghệ đã tổ chức lễ trao giải
thưởng Công nghệ Thông tin Thanh niên 2006 cho 45 bạn trẻ tiêu
biểu trong lĩnh vực CNTT trên cả nước.
Giải “Quả cầu vàng” đã được trao cho 7 thanh niên xuất sắc trong
lĩnh vực CNTT: Hiệp sĩ CNTT 2005 Nguyễn Công Hùng (Nghệ An); kỹ
sư Đỗ Việt Bình (Viện CNTT, Trung tâm khoa học kỹ thuật – công
nghệ quân sự); thạc sĩ Tăng Minh Tuấn (Viện Tự động hoá kỹ thuật
quân sự); tiến sĩ Bùi Thế Duy (giảng viên Khoa CNTT, Đại học
Quốc gia Hà Nội); thạc sĩ Đinh Hải Minh (Công ty Tin học Bạch
Kim); thầy giáo Đỗ Đức Đông (trường THPT chuyên Nguyễn Huệ, Hà
Tây) cùng học trò cũ là Đặng Thanh Tùng (sinh viên lớp cử nhân
tài năng Trường Đại học Bách khoa Hà Nội).
38 nữ sinh viên CNTT đạt điểm trung bình năm học trên 8 điểm đã
được trao thưởng tại buổi lễ.
Đây là năm thứ 4 giải thưởng “Quả cầu vàng” được tổ chức với mục
đích góp phần thúc đẩy phong trào học tập, nghiên cứu, ứng dụng,
phát hiện, bồi dưỡng các tài năng trẻ trong lĩnh vực CNTT. Tính
đến nay, đã có 35 tài năng trẻ nhận giải “Quả cầu vàng” và 248
nữ sinh viên xuất sắc (tính từ năm 1998), được nhận phần thưởng
trong lĩnh vực CNTT. |
|
|
Tin, ảnh: Hà Lương |
|
|
|
Chàng giám đốc "kẻ thù" của
virus
Mỹ Quyên |
|
|
|
Nguyễn Hồng Văn tự mày mò nghiên cứu về máy tính từ khi là sinh viên
khoa Quản trị kinh doanh Trường ĐHDL Kỹ thuật công nghệ TP.HCM. Từ năm
1994, anh đã sử dụng những chiếc máy tính an toàn do chính mình cài đặt.
Ngay sau khi tốt nghiệp ĐH, Hồng Văn đã đứng ra thành lập Công ty cổ
phần khai thác tiềm năng máy tính Việt Kiến Tạo. Chàng giám đốc trẻ
quyết tâm tiếp tục nghiên cứu công trình mình hằng ấp ủ và cho đến tháng
10.2006, hệ thống miễn nhiễm virus máy tính của Hồng Văn được hoàn
thiện. Hồng Văn quyết định chọn Trung tâm an ninh mạng ĐH Bách khoa Hà
Nội để kiểm tra hệ thống này. |
|

Hồng Văn (trái) đang chờ test hệ thống tại Trung tâm an ninh mạng ĐH
Bách khoa Hà Nội |
"Thú thực, bạn bè mình không ai tin là có một hệ thống "trơ gan trước
virus" như thế. Lại còn nói mình hoang tưởng. Nhưng kết quả sau khi kiểm
tra thật tuyệt vời, bọn virus đã phải chào thua mình!". Sử dụng những
công cụ có sẵn của Microsoft, Hồng Văn đã sáng tạo ra 3 lớp bảo vệ: Lớp
thứ nhất (phòng thủ): ngăn chặn không cho virus, web có mã độc hại tự
động xâm nhập vào máy tính. Lớp thứ 2 (phục hồi): Nếu có sự cố ngoài ý
muốn, người dùng có thể yêu cầu phục hồi lại hệ thống gốc ban đầu mà
không hề bị mất dữ liệu. Lớp thứ 3 (ngăn chặn): Ngăn chặn các hành vi
ngoài ý muốn của người hoạch định hệ thống như người dùng vô tình hay cố
tình kích hoạt virus, cài thêm phần mềm không được phép. Lớp này có thể
ngăn chặn các virus vào máy tính. "Đối với các hệ thống máy tính cố
định, ít thay đổi, không có nhu cầu thêm những ứng dụng khác thì hệ
thống này rất tiện dụng và an toàn tuyệt đối. Tuy nhiên với hệ thống máy
tính luôn có nhu cầu mở rộng, thay đổi, linh hoạt với những điều kiện cụ
thể thì việc đặt lệnh như thế sẽ tốn thời gian cho người quản trị" -
Trưởng phòng Virus thuộc Trung tâm an ninh mạng ĐH Bách khoa Hà Nội Vũ
Ngọc Sơn nhận xét. |
|
|
Được Văn phòng Microsoft tại Việt Nam ủng hộ, Hồng Văn đã có thêm tự tin
để quyết định đưa hệ thống đến người tiêu dùng. "Với hệ thống có khả
năng tự động phục hồi và miễn nhiễm trước mọi virus này, tôi mong muốn
máy tính sẽ trở thành "chiếc máy trợ não điện tử" chứ không phải là một
cái máy đánh chữ và truyền tin thông thường".
Hồng Văn cho biết, quy trình này sẽ được cung cấp miễn phí đến các công
ty phần mềm cũng như dịch vụ tin học khác (chỉ mất chi phí chuyển giao
công nghệ), không thu tiền từ người dùng cuối. |
|
|
|
(Nguồn:
http://www.thanhnien.com.vn/Thegioitre/2006/11/22/171116.tno) |
|
|
|
"Phép lạ" Asakawa
mang các website đến với người khiếm thị |
|
|
|
Một lập trình viên mù đang tìm cách giúp cho những người bị suy giảm
thị lực hay khiếm thị có thể lướt web – số người dùng đặc biệt này đang
ngày một tăng do sự già nua của dân số Nhật Bản.
Nhờ… luật hóa!
Căn phòng khiêm tốn nằm tận cùng trong dãy các phòng thí nghiệm của hãng
máy tính IBM chi nhánh Nhật Bản, đặt tại phía Nam Tokyo (Nhật Bản), vang
động bởi một giọng nữ được tạo ra bởi máy tính: “Công việc”, rồi nó đọc
tiếp: “Cá nhân. Bất động sản. Cho thuê mướn. Xe cộ”... Đó là kết quả của
cô Chieko Asakawa, 45 tuổi, nhà nghiên cứu hàng đầu của hãng IBM trong
lĩnh vực giúp người mù tiếp cận được với Internet.
Hình như cô đang đi nhầm vào một mục tin mà cô không mong muốn khi lướt
Web. “Đến rìa rồi”, máy tính thông báo bằng một giọng nam. “Ra đến rìa
rồi”, nó lặp lại. Cô Asakawa gõ nhanh trên bàn phím Braille (hệ thống
chữ nổi dành cho người mù) một cách bực bội, rồi cô bỏ qua rất nhiều từ
khi nó chưa kịp phát âm xong. Một cách kiên trì, cô tiếp tục đi xuống
các hàng văn bản bên dưới. Nhưng thật ra mục tin mà cô muốn đọc chỉ nằm
cách đó vài cen-ti-mét về phía bên phải - với người sáng mắt thì chỉ cần
một cái nhấp chuột đơn giản chứ không cần phải lần mò như vậy.
Cuối cùng, cô cũng tạm ngừng và mỉm cười. “Những thông tin vừa rồi đối
với bạn có thể chẳng là gì nhưng với người mù chúng tôi, nó đã là một
lượng thông tin rất đáng kể.” - cô nói. Asakawa đã trải qua tám năm làm
việc trong lĩnh vực nghiên cứu và làm cho Internet trở nên thân thiện và
dễ tiếp cận hơn cho những người khiếm thị. Vào năm 1997, nhóm nghiên cứu
của cô tại IBM chi nhánh Nhật Bản đã lần đầu tiên trên thế giới đưa ra
một trình duyệt web được thiết kế đặc biệt có khả năng phát âm nội dung
của các trang web. Và vào tháng 7 vừa qua, nhóm của cô đã phát hành một
phần mềm giúp cho những người thiết kế trang web chuyển đổi định
dạng các trang web của mình sao cho phù hợp và “dễ đọc” đối với những
người mắt kém, khiếm thị hay mắt không còn nhìn thấy gì nữa. |
|
|
|

Bàn phím chữ Braille của IBM |
Đây là một vấn đề nghiêm túc và quan trọng. Internet đang ngày càng trở
thành một nguồn tài nguyên thông tin và cung cấp nhiều dịch vụ và tiện
ích hết sức quan trọng, đa dạng và phong phú: Từ bỏ phiếu cho các cuộc
bầu cử hay điền và nộp các bản khai thuế hay thậm chí ngồi ở nhà mà vẫn
kêu được món ăn mà mình ưa thích từ một nhà hàng. Đối với người mù, đó
vừa là một sự may mắn vừa là một sự nguy hiểm. Internet cho phép họ tự
mình chọn làm được nhiều điều mà lẽ ra trước đây họ phải cần rất nhiều
đến sự giúp đỡ, ví dụ như đi mua sắm. Nhưng họ cũng có thể hoàn toàn bị
cô lập ra khỏi kho dữ liệu quan trọng này nếu các thông tin trên
Internet này quá khó khăn để họ có thể tiếp cận được. Bên cạnh đó là vấn
đề tuổi tác già nua của dân số Nhật Bản đã khiến cho số người khiếm thị
tăng vọt. |
|
|
|
|
Tại một số quốc gia, trong đó có cả Mỹ và Anh, đã có luật quy định
cụ thể về tính dễ truy cập và sử dụng của một số loại trang web cho một
số đối tượng cụ thể. Tháng 6 vừa qua, chính phủ Nhật đã đưa ra
các quy định cụ thể về tính dễ sử dụng và bắt buộc các trang web của
chính phủ phải áp dụng. Nhưng nhiều khảo sát cho thấy rằng các công ty
Nhật – vì sự sống còn của mình - thậm chí đã tiến xa hơn cả chính phủ
trong việc tạo ra các trang web mang tính dễ sử dụng. “Với số người già
đang gia tăng nhanh chóng tại Nhật, nếu công ty nào không tạo ra được
các trang web mang tính dễ sử dụng cho riêng mình thì số người truy cập
vào đó sẽ giảm rất nhiều.” - Nobuaki Arima – người giám sát các vấn đề
về truy cập tại Bộ Viễn thông của Nhật cho biết.
Chuyện Asakawa: "Khó không có nghĩa là không
thể"
Đối với cô Asakawa, con đường dẫn cô đến với việc phát triển các trình
duyệt web cho người mù thật sự là một bước ngoặt. Cho đến những năm đầu
ở trường trung học, mắt của cô vẫn bình thường. Lúc đó, Asakawwa là một
cô gái trẻ trung rất yêu thích thể thao – không thích học tập mấy mà cứ
mơ ước trở thành một vận động viên. Vào năm lớp 11, cô gặp tai nạn trong
khi bơi lội, đầu cô bị đập vào mép hồ bơi đã làm tổn thương đến thần
kinh thị giác của cô. Ba năm sau thì cô hoàn toàn bị mù. Một Asakawa quá
trẻ vào lúc đó đã phải suy tính lại cho cuộc đời của mình. Con đường thể
thao đã đóng; cô chỉ còn duy nhất một lựa chọn là sách vở. Nhưng cô cũng
gặp rất nhiều trở ngại vì cô không bao giờ có thể đọc chữ nổi Braille
nhanh như những người bị mù bẩm sinh và phải hết sức nỗ lực trong một hệ
thống trì trệ của nước Nhật khi đó. Vì thế, ở trường đại học, cô đã chọn
chuyên ngành Anh văn, vì dù sao thì việc đọc và phát âm cũng còn dễ dàng
hơn và hi vọng thứ tiếng này sẽ giúp cô dễ tìm được một việc làm.
Trải qua một vài năm tại trường ngôn ngữ dành cho người mù, học lập
trình với nhiều ngôn ngữ lập trình cổ lỗ khác nhau cho hệ máy tính chủ
kiểu cũ sử dụng băng từ và phiếu đục lỗ. Để đọc được các dữ liệu in ra
từ máy tính dưới dạng lỗ này, cô phải dùng một thiết bị để chuyển các lỗ
thành các gờ nổi để tay cô có thể sờ thấy được. Đó thật sự là một cuộc
vật lộn. “Lúc đó, thật hết sức khó khăn để một người mù có thể trở thành
một lập trình viên máy tính. Khó chứ không có nghĩa là không thể!” - cô
Asakawa hồi tưởng. |
|
|
|

Nữ lập trình viên Chieko Asakawa, người tạo nên "phép lạ" mang các
website vào đời sống người khiếm thị |
Vào năm 1985, Asakawa gia nhập vào hãng IBM và khi đó với cô: “Thế giới
của tôi đã hoàn toàn thay đổi”. Lúc đó, IBM đã là người dẫn đầu trong
việc phát triển các kỹ thuật nhằm giúp ích những người tàn tật. Họ đang
tập trung hướng tới một trong những phần mềm đầu tiên có khả năng phát
âm các nội dung được hiển thị trên màn hình máy tính. Khi cô Asakawa gia
nhập vào IBM, các nhà nghiên cứu của hãng này đang tìm cách chuyển các
nội dung in từ máy tính thành chữ Braille ra máy in cho người khiếm thị.
Cô đã bắt đầu bằng việc phát triển một phần mềm cho phép những người
tình nguyện vốn vẫn thường dùng tay để đọc chữ Braille có thể bắt máy
tính làm thay cho họ việc này. |
|
|
|
|
Khoảng giữa thập niên 1990, cô bắt đầu tập tành lướt Internet khi đó vẫn
còn rất sơ khai, sử dụng kết hợp hai phần mềm; Netscape để lướt Web và
phần mềm của IBM để đọc lên những gì có trên màn hình. Cô Asakawa rất
thích thú với các thông tin có được từ các trang web, tuy nhiên cô cũng
vấp phải nhiều khó khăn. Phần mềm đọc màn hình lúc đó chỉ đọc được tiếng
Anh. Hệ thống khi đó đang được chuẩn hoá nên rất rối rắm – sự tương hợp
giữa các chương trình máy tính và hệ điều hành – đều rất khó thiết lập.
Các dạng màn hình có nội dung đầy tràn hay vượt quá trang màn hình làm
cho phần mềm phát âm hoạt động thiếu chính xác. Và do phần mềm được vận
hành và đọc văn bản theo kiểu từ trái qua phải và từ trên xuống dưới nên
khi đụng các bảng biểu với các cột dọc là nó lại bị lỗi, cứ lắp ba lắp
bắp.
Asakawa quyết định phải phát triển một phần mềm được thiết kế chuyên
biệt để có thể hiểu được các đoạn mã điều khiển và định dạng ẩn trong
các trang web.
Cô thêm vào đó các âm báo giúp cho trình duyệt hoạt động tốt hơn, như
việc sử dụng giọng nam để phát âm văn bản và giọng nữ cho các liên kết.
Vào năm 1997, cô giúp đưa ra phần mềm lần đầu tiên đọc được nội dung của
trang web tiếng Nhật cho IBM. Rồi phiên bản tiếng Anh – và tiếp theo sau
là bằng chín ngôn ngữ khác.
Cùng lúc đó, Asakawa đã nhận thấy một vấn đề khác: Mặc dù số lượng các
trang web đã tăng lên rất nhiều, nhưng số các trang web mà phần mềm của
cô có thể đọc được ngày càng giảm thiểu. Đó là vì những nhà thiết kế web
ngày càng lồng vào đó nhiều hình ảnh, chuyển động và các thiết kế
bay bổng làm cho phần mềm chủ yếu dùng để đọc văn bản của cô không tài
nào “đọc” ra các hình ảnh và chuyển tải đến cho người nghe các
hình tượng bay bổng đó được.
Cô ước tính rằng phần mềm đọc trang web do mình tạo ra có thể giúp hiểu
được hầu hết tất cả các trang web mà cô từng thử nghiệm trong những năm
1996, song nay thì tỉ lệ các trang web cho phép cô đọc và hiểu được đã
giảm xuống chỉ còn khoảng một nửa. Nếu cứ tiếp tục với chiều hướng này,
phần mềm đọc trang web của cô đến năm 2010 chỉ còn có thể đọc và hiểu
được... 5% các trang web mà thôi, do: “Họ đang quá chú trọng đến vẻ bề
ngoài và hiệu ứng hình ảnh gây ra của các trang web, nên trình duyệt
phát âm của tôi không thể nào diễn đạt nổi”.
Để minh hoạ, bạn hãy thử tinh nghịch bắt phần mềm phát âm này đọc thử
trang web của Công viên Giải trí khổng lồ Paramount’s Great America.
Phần mềm sẽ chăm chú đọc hết các đề mục được sắp xếp theo trình tự thời
gian nhưng lại bỏ qua phần giới thiệu màn trình diễn hết sức sôi động
của Crocodile Dundee (bộ phim "Cá sấu Dundee" với diễn viên người Úc nổi
tiếng) vì nó được quảng cáo với một... hình ảnh đầy màu sắc chứ không
phải là văn bản.
Một khó khăn gần đây còn là các biện pháp chống thư rác. Một người mù cố
gắng để đăng ký sử dụng dịch vụ thư điện tử miễn phí của Yahoo! sẽ bị
lúng túng và mắc kẹt ở phần cuối khi việc đăng ký yêu cầu họ “Nhập vào
mã được thể hiện trong khung bên dưới” - tiếp theo đó là một sự im lặng
và không có hướng dẫn nào được đưa ra thêm. Người bình thường sẽ thấy
một hình ảnh của văn bản bị làm cho méo mó và cứ theo đó mà nhập vào ô
theo yêu cầu. Kỹ thuật này hiện nay đang được sử dụng để chống lại các
công cụ tìm kiếm và đăng ký dịch vụ một cách tự động, sau đó xâm nhập và
dùng danh bạ của chính dịch vụ đó để gửi thư rác đến cho các khách hàng,
ông Judy Brewer – giám đốc của Sáng kiến Truy cập Web thuộc Công ty
Chuyên viên Thiết kế Internet - tiêu chuẩn World Wide Web Consortium,
cho biết.
Câu trả lời từ Asakawa là: Chương trình được phát hành trong tháng 7 qua
cho phép những nhà thiết kế web thấy được một cách sinh động mức
độ dễ dàng truy cập của các trang web của họ ra sao đối với người khiếm
thị. Cứ chạy thử chương trình và nó sẽ cho họ biết: Những khu
vực của trang web có nền màu sáng có nghĩa là người khiếm thị sẽ truy
cập tốt đến đó, những khu vực có thông tin khó truy cập tuỳ theo mức độ
sẽ có màu sậm dần cho đến tối đen, làm cho người thiết kế trang web cũng
không thể đọc được – nhờ vậy mà họ sẽ cải tiến lại trang web của mình
cho phù hợp với người khiếm thị hơn. Chương trình này cũng tính toán và
cho biết mất bao nhiêu thời gian để phần mềm đọc trang web đọc xong các
thông tin có trong trang đó.
Cô Asakawa cho biết: Phần lớn các khó khăn trên đều có thể được giải
quyết một cách hết sức đơn giản. Các hình ảnh có thể được kết hợp hay đi
kèm cùng với văn bản chú thích diễn giải, ngoài ra các điểm đánh dấu
phát ra âm thanh nếu được bố trí tốt trong trang web cũng có thể giúp
người sử dụng khiếm thị xác định và di chuyển nhanh chóng đến phần mà họ
muốn truy cập đến của trang web. Cô cũng đang thực hiện một nghiên cứu
sơ bộ trong việc sử dụng xúc giác để thu hút sự chú ý của người mù, cũng
giống với việc các màu sắc ảnh hưởng đến sự chú ý của người sáng mắt.
Asakawa hy vọng các nghiên cứu thuộc loại này cũng sẽ hữu ích đối với
những người sáng mắt – nhất là khi mà mắt của họ đang bận chăm chú làm
việc khác - ví dụ như khi họ đang lái xe.
“Người bình thường chỉ dùng mắt và rất ít khi dùng đến xúc giác của
mình, thật là phung phí biết bao!” - Asakawa cười và nói. |
|
|
|
(Nguồn:
http://www2.vietnamnet.vn/cntt/2004/10/333731/) |
|
|
|
Định hướng di chuyển cho người khiếm thị
Lê Dân Bạch Việt |
|
|
|
Nếu quan sát kỹ trẻ khoảng 3, 4 tháng tuổi chơi với đồ chơi, ta sẽ thấy
khi nhìn hay nghe tiếng của vật lạ, trẻ luôn quay mặt về hướng có nguồn
sáng hay âm thanh và đưa tay sờ hay nắm bắt. Đó là những biểu hiện về
định hướng và di chuyển đầu tiên.
Nếu trẻ bị suy giảm thị lực hay thính lực thì sẽ ảnh hưởng đến việc phối
hợp với xúc giác trong việc với, nắm bắt vật. Nhưng qua luyện tập như
thế nào để có thể cải thiện được khả năng của thị giác qua sự luyện tập
nhìn và phối hợp giữa thính giác, xúc giác và phần còn lại của thị giác
để định vị mọi vật đang cố định hay đang di chuyển trong không gian rồi
tự mình di chuyển tới và nắm bắt. Khi lớn lên cũng vận dụng tất cả các
giác quan trong đó có phần còn lại của thị giác để di chuyển trong nhà
và ngoài đường với người dẫn dắt, tự mình di chuyển độc lập với gậy hay
với chó dẫn đường là lĩnh vực nghiên cứu của bộ môn Liệu pháp về định
hướng và di chuyển cho người khiếm thị (Orientation and mobility therapy
for persons with visual impairment), gọi tắt là O&M.
Đào tạo chuyên viên
|
|

Hướng dẫn lên cầu thang... |
Chuyên viên về định hướng di chuyển không chỉ cần có kiến thức về kỹ
thuật đi gậy như vẫn thường được nhìn nhận một cách đơn giản ở nước ta
từ nhiều năm qua. Những chuyên viên này phải có kiến thức sâu về ảnh
hưởng của bệnh mắt trong sinh hoạt hàng ngày để phục vụ cho việc di
chuyển, kiến thức, quan sát và làm đánh giá thị lực chức năng
(functional visual assessment); về môi trường sinh hoạt và giao thông;
kiến thức về các khuyết tật khác ảnh hưởng tới việc vận động cơ thể khi
di chuyển như thính giác, giác quan vận động, tâm lý, và phát triển thể
chất. Và tất nhiên, họ phải biết phương pháp hướng dẫn cách sử dụng các
thiết bị điện tử dành cho người khiếm thị để định hướng khi di chuyển
như gậy siêu âm, walkmate, kể cả thiết bị định vị toàn cầu GPS cho người
khiếm thị v.v... Cũng có những chứng bệnh gây ảnh hưởng tới thị giác và
di chuyển như tiểu đường. Một lĩnh vực khác là làm mô hình với không
gian 3 chiều để người khiếm thị hình dung được cấu trúc hình học của môi
trường di chuyển, cũng như cách tự giải quyết khó khăn khi di chuyển
trong môi trường đó, cả ở trong nhà và ngoài đường. |
|
|
Ở Hoa Kỳ, các ngành học liệu pháp về định hướng và di chuyển cho người
khiếm thị (O&M) được chia làm 2 mức độ: mức huấn luyện viên (O&M
instructor) và mức chuyên viên (specialist - có trình độ thạc sĩ). Từ
năm 1959, Đại học Boston là trường đại học đầu tiên đào tạo thạc sĩ
ngành O&M (nay đã ngưng đào tạo) và một sau có thêm Đại học Western
Michigan (WMU). Pennsylvania college of Optometry (PCO) là trường đại
học chuyên về nhãn khoa đầu tiên ở Mỹ, nhưng đến năm 1970 mới có ngành
O&M. Ngoài O&M cho người mù, mù đa tật, PCO còn có thế mạnh là O&M cho
người suy giảm thị lực.
|
|

... và băng qua đường. |
Tháng 4 năm 1997, ông Rodney Kossick, một người tốt nghiệp thạc sĩ tại
trường đại học WMU đã đến Sài Gòn để dạy 2 khoá (khoá 1 có ba học viên
và khoá 2 là năm người), mỗi khoá 6 tháng trong dự án Phục hồi chức
năng. Nội dung khóa học dựa theo quyển Cơ sở của định hướng và di chuyển
do AFB Press xuất bản (trang 635, bản in lần thứ hai, năm 2001) của hai
tác giả Blasch và Weiner và bài viết của Rodney Kossick đăng trên tạp
chí American Workers for the Blind năm 1970. Có tám người được đào tạo
nhưng chỉ có cô Đào Kim Phụng và anh Hoàng Văn Tuấn đã gắn bó liên tục
từ năm 1967 đến nay trong việc huấn luyện định hướng di chuyển cho người
mù và đã từng giúp Hội Người Mù Việt Nam giới thiệu O&M với cộng đồng
vào năm 1986. Chúng tôi, những người khiếm thị dù không phải là học viên
của họ vẫn luôn cảm phục về tinh thần làm việc, cống hiến âm thầm của họ
ròng rã gần 40 năm qua. |
|
|
|
|
Liệu pháp O&M
O&M giúp định hướng trong không gian cho người khiếm thị bẩm sinh và cả
những người cao tuổi suy giảm thị lực, kể cả người khiếm thị đa tật.
Liệu pháp O&M không chỉ giới hạn trong việc giúp người khiếm thị qua
việc sử dụng và kết hợp tất cả các giác quan còn lại của mình kể cả thị
giác mà còn góp phần phát triển trí thông minh của trẻ, phục hồi chức
năng cho người cao tuổi qua việc nhận thức tương tác không gian và
phương hướng giữa cá nhân và môi trường chung quanh; cá nhân đối với đồ
vật trong môi trường không gian và quan hệ không gian phương hướng tương
tác giữa các vật khác nhau trong môi trường để hình dung được sơ đồ di
chuyển trong trí, tổ chức di chuyển sao cho có hệ thống và khoa học.
Ví dụ: khi một người khiếm thị muốn di chuyển từ bên ngoài vào một hành
lang và văn phòng. Nếu ở môi trường đã quen thuộc, anh ta phải hình dung
trước mình sẽ dò gậy dọc bờ tường hành lang tới đâu sẽ quẹo, quẹo phải
hay trái, cánh cửa thứ mấy sẽ đến căn phòng đó. Muốn vậy phải nghe tiếng
gậy chạm vào cửa (phân biệt cửa thứ mấy, cửa sắt hay cửa gỗ), khi đến
chổ quẹo, ngoài cảm giác dò gậy dọc bờ thường phải nghe tiếng gió thoảng
bên tai để biết chỗ quẹo và dùng tay sờ tìm chốt cửa. Nếu vào phòng lạ
thì nghe cảm giác xem phòng thế nào qua âm thanh dội (echolocation) và
dùng tay sờ chốt cửa, bàn ghế.
Nếu còn thấy đôi chút, anh ta sẽ nhìn như thế nào cho phù hợp? Điều kiện
ánh sáng nào sẽ thuận lợi cho anh ta di chuyển theo tình trạng bệnh mắt
mà anh ta đang mắc phải. Khi di chuyển hay băng qua giao lộ, phải dùng
đôi tai của mình cộng với phần còn lại của thị giác phân tích có bao
nhiêu luồng xe (ngã 3, 4 hay ngã 5) hướng nào đang chạy, hướng nào đang
dừng chờ; quyết định khi nào có thể băng qua đường và khi băng cũng phải
nghe tiếng xe đang chạy cùng chiều hay ngược chiều để giữ được hướng đi
đúng. Và nhất thiết, người huấn luyện phải tập cho học viên phân tích xe
và dẫn học viên qua tất cả các góc theo chiều kim đồng hồ và ngược chiều
kim đồng hồ vừa để học viên luyện mắt và tai, gậy, vừa tạo tâm lý an
tâm, tự tin trước khi từng bước tập cho học viên tự mình băng qua đường.
Nếu tâm lý quá căng thẳng sẽ khiến học viên không suy nghĩ được khi phân
tích giao lộ (freezing).
Thực trạng cần quan tâm
Hiện nay, khi nguy cơ về tai nạn giao thông ngày càng tăng, ý thức của
người tham gia giao thông về việc nhường đường cho người khiếm thị với
cây gậy trắng trên đường phố còn quá thấp; nhận thức về định hướng và di
chuyển cho người khiếm thị vẫn chưa được quan tâm ngay trong các trường
khiếm thị và cả hội người mù. Tại nhiều thành phố lớn ở nước ta, trẻ
sáng mắt thường được phụ huynh đưa đón tận cổng trường thì một số trẻ mù
vẫn phải tự đi bộ đến trường học, hàng ngày đối mặt với nguy cơ tai nạn
giao thông luôn rình rập. Ngoài ra, mảng hỗ trợ người cao tuổi mắt kém
và trẻ em trước tuổi đi học về định hướng và di chuyển cho họ thì gần
như không có, nên nhu cầu huấn luyện viên O&M là rất lớn. Riêng TP.HCM,
chỉ trong 6 tháng đầu năm 2006 đã xảy ra 963 tai nạn giao thông làm 724
người thiệt mạng và 670 khác bị thương (báo cáo sơ kết công tác bảo đảm
trật tự an toàn giao thông 9 tháng đầu năm 2006 và tháng an toàn giao
thông tháng 9-2006 gửi UBND TP HCM ngày 11 tháng 10 của Ban an toàn giao
thông thuộc Sở Giao thông – Công chánh).
Trong bài viết này, chúng tôi không thể giới thiệu tất cả các khía cạnh
của môn Liệu pháp định hướng di chuyển. Chỉ mong bạn đọc có chút khái
niệm về nó và năm 2007 tới, khi đánh dấu 40 năm bộ môn Định Hướng có mặt
tại Việt Nam, hy vọng sẽ có một bước chuyển biến nhỏ trong xã hội. Trong
thực tế hiện nay, giao thông tại các thành phố lớn ở nước ta thật không
đơn giản. Bạn hãy nhìn những hình ảnh dưới đây và sau đó nhắm mắt lại để
tưởng tượng ra những thách thức mà các em học sinh khiếm thị và giáo
viên môn Định hướng vẫn gặp phải hàng ngày trên đường phố. |
|

“Thầy ơi! lối nào cho chúng em đi bộ đây?” |
|
|
|
|