|
VỚI NÔM LOOKUP TOOL: Chữ Nôm lại nhú mầm trở lại... |
LTS: Trong hàng ngàn năm, bên cạnh chữ Hán (một loại
kư tự biểu ư), cha ông ta đă bắt đầu xây dựng chữ Nôm
của người Việt - một loại kư tự vừa biểu âm vừa biểu ư
cho riêng ḿnh. Chữ Hán Nôm trong lịch sử đă là chữ
chính thức của dân tộc dùng để ghi lại mọi vấn đề văn
học, nghệ thuật, lịch sử văn hoá... và bị chính quyền
thuộc địa Pháp chấm dứt cho sử dụng vào năm 1920. Với
chúng ta ngày nay, chữ Nôm là ch́a khoá để mở kho tàng
tri thức của tiền nhân. Không rành chữ Nôm, không những
không thể thưởng thức nhiều tuyệt tác như Bạch Vân Am
quốc ngữ thi tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm, hay thơ Nôm của
Nguyễn Trăi,… mà c̣n không thể nghiên cứu thấu đáo để
học hỏi kinh nghiệm của cha ông, để biết tường tận thế
nào là văn minh Việt (qua những hệ thống thư tịch về
quản lư hành chính như Châu bản triều Nguyễn, chính sách
đất đai như Địa bộ triều Nguyễn,…), và bồi dưỡng ư thức
tự hào dân tộc.
V́ nhiều lư do, trong khi nhiều di sản văn hoá của người
Việt đang mai một dần theo thời gian th́ hiểu biết về
chữ Nôm của người Việt đương đại cũng ngày càng bị thu
hẹp. V́ vậy, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá
được chuyển tải qua chữ Nôm đă trở thành một đ̣i hỏi hết
sức cấp bách...
Các anh chị được đề cập đến trong công tŕnh dưới đây
(Công cụ tra cứu chữ Nôm - Nôm Lookup Tool) hiện đang
sống tại nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới. Dù khác
nhau về quốc tịch nhưng họ cùng là người Việt và luôn
xem dải đất h́nh chữ S bên bờ biển Đông là quê hương.
Văn hoá và văn minh Việt là niềm tự hào của họ và mỗi
người trong họ đă góp “một chút”sức lực, trí tuệ trong
việc hỗ trợ những đồng bào khác có thêm điều kiện nghiên
cứu về ngữ âm và từ vựng của cha ông người Việt, giải mă
các văn bản chữ Nôm, góp thêm dữ liệu trong việc nghiên
cứu văn hoá và văn minh Việt… Đây là việc mở đầu cho
những hoạt động của công nghệ thông tin (CNTT) ứng dụng
vào xử lư ngôn ngữ dân tộc, tận dụng những thành tựu
công nghệ hiện đại nhất vào các vấn đề văn hoá.
Công cụ tra cứu chữ Nôm – Nôm
Lookup Tool (NLT)
Tổ chức tài trợ chính:
Hội Bảo tồn Di sản chữ Nôm VNPF
Nguồn dữ liệu:
- Từ điển chữ Nôm: Vũ Văn Kính
- Bảng Tra Chữ Nôm: Hồ Lê, Viện Ngôn ngữ học xuất bản
- Từ điển Hán Việt: Thiều Chửu
- Các tài liệu chữ Nôm: Nguyễn Quang Hồng
- UniHan Database: Cơ sở dữ liệu đặc biệt của tổ chức
Unicode
- Các dữ liệu điện tử khác nhau: Ngô Thanh Nhàn, Đỗ Bá
Phước, Ngô Trung Việt.
Công việc được phân công đảm nhiệm:
- Yêu cầu người dùng: Ngô Thanh Nhàn, Ngô Trung Việt
- Nhập dữ liệu: Lê Mai Phương, Ngô Trung Việt
- Thiết kế: Lê Phạm Ngưng Hương
- Thực hiện: Đỗ Bá Phước, Lê Phạm Ngưng Hương
- Đóng gói và phân phối: Hồ Văn Tiến.
Công cụ phát triển:
- MySql: DBMS mă nguồn mở
- PHP: Ngôn ngữ Web-scripting mă nguồn mở
- VietUni: Cấu phần dựa trên java-script do Trần Anh
Hùng tạo ra để gơ chữ Việt
- Font: DFSongLight của Dynalab, chứa 9.299 chữ biểu ư
Nôm, Arial Unicode MS của Microsoft, chứa một phần các
chữ biểu ư thống nhất CJKV.

Nhóm NLT (từ trái sang): Lê Phạm Ngưng Hương (Thuỵ
Sĩ), Ngô Thanh Nhàn và Đỗ Bá Phước (Mỹ), Ngô Trung Việt
(VN), Hồ Văn Tiến (Thuỵ Sĩ), Lê Mai Phương (Bỉ)
Mọi việc cứ khớp lại với nhau y
như có ai đă bày đặt sẵn
(Về ư nghĩa và các pha thực hiện NLT, theo lời kể của
người chủ tŕ – chị Lê Phạm Ngưng Hương). Tiếng Việt đă
tồn tại và phát triển với việc mẹ truyền lời dạy con
nói. Tiếng nói như vậy mang yếu tố thời gian và không
gian. Để cho tri thức vượt qua thời gian, tiếng nói lấy
lại h́nh hài cụ thể là chữ viết. Tiếng Việt có hai loại
chữ viết là Hán Nôm và chữ latinh (quốc ngữ).
Đă là người Việt Nam mà chỉ biết mỗi chữ la-tinh th́
cũng là một sự thiếu sót và mất mát đi cái ǵ đó của ông
bà tổ tiên. Do vậy, chữ Nôm vẫn cứ là một chủ đề muôn
thuở trong tâm khảm người Việt.
Chữ Nôm đă đi vào lịch sử, không c̣n là thứ văn tự được
phổ biến chính trong cả nước nữa. Và cũng đă vài ba thế
hệ qua đi hoàn toàn chẳng biết tới chữ Nôm là ǵ, trong
những bận rộn của các cuộc chiến một mất một c̣n. Nhưng
rồi mọi cuộc chiến tranh cũng phải qua đi để nhường lại
vũ đài lịch sử cho các thế hệ mới đi vào khoa học, kỹ
thuật và phát triển. Chính trong sự phát triển của những
công nghệ và kỹ thuật mới đó như những cơn mưa đem tới
mùa màng, chữ Nôm lại nhú mầm trở lại, bởi v́ hạt mầm
của nó trong tâm khảm mọi người Việt vẫn c̣n đấy.
Hạt mầm đó nảy nở thành một hoài băo, một mơ ước được
thấy chữ ông bà ngày xưa đă dùng như thế nào. Hẳn là bây
giờ không ai dùng chữ Nôm cho các vấn đề khoa học và
công nghệ, điều đó chữ quốc ngữ latinh đă là công cụ cực
kỳ tiện dụng cho đại chúng. Thế nhưng vẫn có một cái ǵ
đó bên trong mỗi người Việt, mang tính văn hoá, mang
tính tâm linh thôi thúc con người ngày nay đọc lại chữ
của ông bà tổ tiên, chí ít cũng là thấy xem tên ḿnh
ngày xưa viết thế nào...
Chúng tôi cũng như đại đa số người Việt hiện nay, lúc
đầu hầu như chẳng biết ǵ về chữ Nôm cả. Nhưng chính một
cái ǵ đó tiềm tàng bên trong (chiều sâu của) tâm hồn đă
gắn chúng tôi lại với nhau trong một dự án mở và ban đầu
cũng khá mơ hồ: Làm sao cho mọi người thấy được, dùng
được chữ Nôm trên máy tính? Ban đầu, thực sự đó là hoài
băo và mơ ước. Rồi những người say sưa với ư tưởng về
chữ Nôm trên máy tính ấy xích lại gần nhau, tự động phân
chia công việc, ai thạo cái ǵ th́ làm cái ấy.
Phải nói thời đại internet ngày nay đă làm được cái việc
mà ngày xưa không thể làm được: Gắn nhiều người, với
những chuyên môn khác nhau ở bốn phương trời, vào trong
một dự án, cứ làm lại vỡ ra cái ǵ đó mới mẻ trong vốn
gia tài kế thừa chữ Nôm để lại. Cũng tài thật là mọi
việc cứ khớp lại với nhau y như có ai đă bày đặt sẵn
vậy. Tất nhiên cũng nhiều đêm mất ngủ, nhiều ngày cặm
cụi làm việc, nhưng nói thực chúng tôi có cảm giác là
ḿnh đang chơi một tṛ ǵ đó hay hay nên dù bận mấy th́
bận, cũng vẫn cứ để thời gian cho nó.
Bây giờ nh́n lại, té ra những việc ḿnh làm đă thành một
cái ǵ đó xinh xinh, dùng cũng được, và một mong ước nữa
lại phát sinh: Làm sao cho mọi người đều có cơ hội gặp
gỡ lại chữ Nôm qua công cụ tra cứu chữ Nôm NLT này.
Chính v́ vậy nên mới có phần giới thiệu này đến tay bạn
đọc của e-CHÍP.
Và mơ ước vẫn cứ tiếp diễn...
Pha 1: Tra cứu một chiều đơn giản
Phiên bản NLT ban đầu (hè 2001) về cơ bản là công cụ tra
cứu một chiều: Cho một âm tiết quốc ngữ, hay một từ
tiếng Anh, bạn muốn biết nó được viết ra sao khi là chữ
Nôm. Một cách lư tưởng, bạn cũng muốn tra cứu theo các
cách khác: Cho chữ biểu ư Nôm, bạn muốn biết nó được đọc
thế nào trong chữ quốc ngữ. Tuy nhiên, trong phiên bản
ban đầu, chức năng t́m kiếm được trang bị cho loại tra
cứu đó c̣n rất nghèo nàn: Bạn có thể t́m theo điểm mă
Unicode, phần nghĩa, phần âm, hay cả hai. Trong thực tế,
việc t́m kiếm theo điểm mă Unicode không dễ dùng bởi
chúng ta không thể trông đợi người dùng quen thuộc với
kư pháp kỹ thuật như điểm mă và việc t́m kiếm theo phần
nghĩa/ âm cũng không hiệu quả mấy v́ hai lư do: Không
phải mọi chữ biểu ư đều có thể bẻ thành các phần được.
Trong cơ sở dữ liệu của chúng tôi, chỉ có các chữ biểu ư
thuần Nôm được phân tích âm tiết.
Pha 2: Nỗ lực đầu tiên để giải quyết vấn đề font
Một trong những nhược điểm của phiên bản ban đầu là
không thể phổ biến rộng được v́ font DFSongLight Nôm
không sẵn có, c̣n font Arial Unicode lại chỉ chứa một
nửa số 9.299 chữ Nôm biểu ư. Phiên bản 2 của NLT vào mùa
xuân 2002 là nỗ lực đầu tiên của Nhóm NLT để giải quyết
vấn đề font này, bằng cách dùng công nghệ SVG
(scalar-vector graphics - đồ hoạ vectơ vô hướng). Với
giải pháp SVG, không cần có font vẫn có thể xem được chữ
Nôm biểu ư nhưng người dùng cần có một bộ SVG viewer để
đọc các đồ hoạ được tạo ra tương ứng với font. Tiếc rằng
đồ hoạ không thể sao và dán vào tài liệu, hoặc tiện dụng
cho việc cất giữ như ảnh.Một trong những nhược điểm của
phiên bản ban đầu là không thể phổ biến rộng được v́
font DFSongLight Nôm không sẵn có, c̣n font Arial
Unicode lại chỉ chứa một nửa số 9.299 chữ Nôm biểu ư.
Phiên bản 2 của NLT vào mùa xuân 2002 là nỗ lực đầu tiên
của Nhóm NLT để giải quyết vấn đề font này, bằng cách
dùng công nghệ SVG (scalar-vector graphics - đồ hoạ
vectơ vô hướng). Với giải pháp SVG, không cần có font
vẫn có thể xem được chữ Nôm biểu ư nhưng người dùng cần
có một bộ SVG viewer để đọc các đồ hoạ được tạo ra tương
ứng với font. Tiếc rằng đồ hoạ không thể sao và dán vào
tài liệu, hoặc tiện dụng cho việc cất giữ như ảnh.
Pha 3: Đưa vào nhiều cách đọc quốc ngữ và ngữ cảnh,
ngữ nghĩa liên kết của chúng
Một công việc quan trọng đă được thực hiện trong pha 3
(mùa thu 2002) với việc đưa vào nhiều cách đọc chữ quốc
ngữ và ngữ cảnh, ngữ nghĩa của chúng. Cho đến pha 3,
trong cơ sở dữ liệu của chúng tôi, từng âm tiết quốc ngữ
có thể được biểu diễn bằng nhiều chữ biểu ư Nôm, nhưng
mỗi chữ biểu ư Nôm chỉ biểu diễn cho một âm tiết quốc
ngữ. Cách đọc tiếng Việt chính thức do Viện Hán Nôm đề
nghị với tổ chức Unicode. Trong thực tế, có nhiều mối
quan hệ giữa âm tiết quốc ngữ với chữ biểu ư Nôm và cùng
chữ biểu ư có thể có nhiều cách đọc quốc ngữ. Chẳng hạn,
một chữ biểu ư có bảy cách đọc quốc ngữ khác nhau “nữ”,
“nữa”, “nỡ”, “nớ”, “nợ”, “lỡ”, “nhỡ” nhưng trong cơ sở
dữ liệu của chúng tôi, chỉ có một cách đọc “nữa” do Viện
Hán Nôm đề nghị. Để lấp lỗ hổng này, chúng tôi đă nhập
những cách đọc chữ quốc ngữ c̣n thiếu từ Bảng tra chữ
Nôm (BTCN), cùng với “ngữ cảnh, ngữ nghĩa” liên kết của
chúng, dưới dạng ví dụ. Với những bổ sung này, NLT trở
nên hiệu quả hơn ở nhiều khía cạnh: V́ nhiều mục quốc
ngữ được thêm vào cơ sở dữ liệu nên công cụ có thể t́m
thấy nhiều kết quả hơn. Chẳng hạn, “nữ” trước đây không
thể t́m được trước khi có những bổ sung từ BTCN. Ngữ
cảnh ngữ nghĩa liên kết với từng cặp <quốc ngữ, Nôm> có
thể là những giúp đỡ hữu ích, đặc biệt khi cùng âm tiết
quốc ngữ có thể có các chữ biểu ư Nôm khác nhau, tuỳ
theo nghĩa của nó. Chẳng hạn, âm tiết “đá” có hai nghĩa
khác nhau: “đá” như “ḥn đá”, hay “đá” như “đấm đá”.
Người dùng có thể học được nhiều hơn từ việc t́m kiếm,
v́ với mỗi chữ biểu ư Nôm được t́m, NLT có thể chỉ ra
tất cả những cách đọc quốc ngữ khác nhau.
Pha 4: Thực hiện tra cứu hai chiều và giải quyết vấn
đề f ont
Trong pha 4 (mùa xuân 2003), cơ sở dữ liệu có những thay
đổi lớn, cho phép tra cứu từ Nôm sang quốc ngữ. Trong
hầu hết các hệ thống t́m kiếm Trung Quốc dùng hai phương
pháp: Truy vấn gơ theo tiếng Trung Quốc la-tinh hóa hay
dùng phương pháp gơ chữ Trung Quốc nào đó. T́m chữ biểu
ư theo chỉ mục bộ. Với việc dùng thông tin từ cơ sở dữ
liệu Unihan database, NLT hiện nay có thể cung cấp nhiều
phương pháp t́m kiếm trong cả hai loại này: Theo loại 1,
bạn có thể gơ truy vấn của ḿnh theo chữ Quan thoại
la-tinh hóa (hệ thống Pinyin) hay chữ Quảng Đông la-tinh
hoá (hệ thống Yale) hay dùng phương pháp gơ Cangjie (xem
chi tiết tại
http://www.cjmember.4t.com/the-cj-method.htm). Mặt khác,
cần lưu ư rằng hiện thời, phương pháp t́m kiếm theo loại
1 chỉ áp dụng cho chữ Trung Quốc và do vậy không thể
dùng để t́m chữ biểu ư thuần Nôm. Theo loại 2, bạn có
thể t́m kiếm tất cả các chữ biểu ư theo bộ gốc do
Unicode đă xác định, hoặc bạn có thể giới hạn việc t́m
kiếm theo chữ có số nét phụ đă xác định.
Một thành tựu khác trong pha 4: giải pháp cho vấn đề
font, cụ thể chữ biểu ư Nôm bây giờ được hiển thị như
ảnh .jpeg, sẵn sàng cho việc sao - dán vào tài liệu (có
thể chọn cách hiển thị như kư tự thường nếu bạn có các
bộ font đă xác định). Hăy thử nhé!
Các bạn có thể t́m hiểu NLT tại địa chỉ sau:
http://nomfoundation.org/unicode/lookup.php. |
|
9.299 chữ Nôm và những “người già đi bộ”
Hữu Thiện ghi |
Chuyện kể về nhóm OF-OF
Chữ Nôm có khả năng ghi lại tất cả suy nghĩ từ lĩnh vực
khoa học tự nhiên đến lĩnh vực khoa học xă hội – nhân
văn. Chẳng hạn, có một tài liệu Nôm Tày của một vị tổ
trong nghề múa rối của người Tày, viết về cách làm con
rối, cách tŕnh diễn con rối... Hoặc một tài liệu khác
về y học, cũng viết bằng chữ Nôm Tày, mô tả các bộ phận
trong nội tạng con người,... Cũng cần nói thêm là chữ
Nôm của chúng ta rất giàu khả năng để ghi lại các tiếng
địa phương, tiếng cá nhân và những ngữ âm trong từng
giai đoạn lịch sử của Việt Nam kể từ thế kỷ X, kể cả ghi
lại tiếng nước ngoài phiên ra âm Việt (như tên các thánh
của đạo Thiên Chúa).

Trao biểu tượng “Hiệp sĩ CNTT” cho GS Ngô Thanh
Nhàn(bên trái ảnh) tại ṭa soạn e-Chíp.
Tôi đă chú ư đến vấn đề chữ Nôm khi xuất hiện bộ mă
chuẩn cho chữ quốc ngữ vào năm 1985 ở Mỹ (trong nước
chưa có), cũng như sau đó khi tôi làm luận án cấu tạo từ
trong tiếng Việt, làm bảng tần số các từ dùng trong
tiếng Việt cần đưa vào bảng mă tiếng Việt dùng trong máy
tính,... Rơ ràng muốn hiểu sâu sắc chữ quốc ngữ, chắc
chắn phải nghiên cứu chữ Nôm. Dựa vào Từ điển chữ Nôm
của ông Vũ Văn Kính (in ở Sài G̣n) và một số tài liệu
chữ Nôm in ở Hà Nội, tôi đă soạn bảng mă chữ thuần Nôm,
trong khi anh Phước (lúc ấy đang làm ở hăng Mentor
Graphics) giải quyết vấn đề in bảng mă này ra
PostScript...
Một thời... “không đại diện”
Năm 1992, tôi và anh Đỗ Bá Phước dự hội nghị về chữ biểu
ư (IRG) ở Honolulu. Vào giờ nghỉ, chúng tôi rủ nhau đi
bơi, lên xe bus để đến một vịnh nổi tiếng ở đây. Trên xe
có một ông già tự giới thiệu là người của hăng xe bus
nhưng đang nghỉ hè. Ông ta luôn nhắc nhở mọi người đi xe
bus không nên xuống ngay chỗ cắm bảng v́ phải đi bộ thêm
một đoạn, v.v... Khi đi bơi về, chúng tôi cũng lại gặp
ông ta đứng nhắc nhở mọi người. T́nh thực là những ǵ
ông ta nói đều đúng, vậy mà không ai nghe theo, thậm chí
c̣n chọc ghẹo ông ấy.
Từ “ông-già-đi-bộ” này, chúng tôi liên tưởng tới chuyện
của ḿnh ở hội nghị Honolulu: Nhiều đại biểu các nước
chất vấn chúng tôi đại diện cho ai, chúng tôi đành nói
là “có làm việc với Việt Nam”. Họ thắc mắc tiếp: Tại sao
Việt Nam lại cử người ở ngoài nước tham dự hội nghị?
Chúng tôi nói rằng ḿnh đến với tư cách... khoa học để
giới thiệu về chữ Nôm. Đúng là vào thời đó, cho dù chúng
tôi có nêu với Việt Nam vấn đề mă hoá chữ Nôm để đưa vào
bảng mă chuẩn quốc tế th́ cũng ít ai muốn nghe, v́ chưa
phải đă có nhiều người hiểu rơ ư nghĩa của vấn đề này.
V́ vậy, chúng tôi tự gọi đùa ḿnh là nhóm “OF-OF” (Old
Folk On Foot) – tức “Những người già đi bộ”.
Đó là chưa kể phản ứng của đại biểu một nước đứng lên
phản đối giữa hội nghị Honolulu rằng trước khi tham gia
hội nghị, họ đă nghe nói về chuyện “chữ Nôm chi đó” nên
đă cử người sang Việt Nam mà “không thấy chữ Nôm đâu cả”
(!). V́ vậy, theo họ, “chữ Nôm không đại diện cho Việt
Nam”(!).
Thơ Đường, chữ Nôm trên máy Mac
Dù sao, chúng tôi rất ngạc nhiên khi các đại biểu của
Mỹ, Nhật, Hàn Quốc và Đài Loan lại ủng hộ chữ Nôm. Riêng
đại biểu Hồng Kông là một thầy giáo và là người duy nhất
có mở ra xem kỹ bảng chữ Nôm do tôi soạn (gồm 2.500 chữ
thuần Nôm, được xếp theo nhiều loại khác nhau). Ông ấy
nói: “Tôi học chữ Hán nhưng không đọc được chữ Nôm, c̣n
bảng mă chữ Nôm được giới thiệu ở hội nghị là công phu,
có quy tắc, chứng tỏ... quả thật có chữ Nôm nên đồng ư
bỏ phiếu thuận”. Kết quả: 7/8 phiếu đồng ư đưa chữ Nôm
vào bảng mă quốc tế!
Sau đó, chúng tôi báo cáo kết quả này và làm việc với
Việt Nam. Anh Trần Lưu Chương, Trưởng Tiểu ban Chuẩn
công nghệ thông tin (CNTT), thuộc Chương tŕnh Quốc gia
về CNTT, chấp nhận làm bảng mă chuẩn chữ Nôm để làm cơ
sở pháp lư cho việc đăng kư chữ Nôm vào bảng mă quốc tế.
Đến năm 1993, nhân sáng kiến tổ chức hội nghị về bảng mă
quốc tế ở Hà Nội, chúng tôi đă đưa các đại biểu đi thăm
G̣ Đống Đa và Viện Hán Nôm, rồi cùng một số đi xe lửa vô
Huế để thăm đền chùa, lăng tẩm để họ thấy rơ chúng ta có
di sản chữ Nôm. Chúng tôi cũng gặp được nhiều người dân
Huế sốt sắng đưa về nhà cho xem hồ sơ, gia phả,... chữ
Nôm trong gia tộc họ. (Thậm chí, có ông tướng Việt Nam
đọc được vài bài thơ Đường do chúng tôi gơ chữ Nôm trên
máy Macintosh. Các đại biểu quốc tế rất ngạc nhiên, c̣n
đại biểu Mỹ th́ bái phục v́ theo họ, “tướng Mỹ không...
đọc được thơ”!)
Cũng năm 1993, bảng mă chuẩn chữ Nôm ra đời trong nước,
với sự chủ tŕ của Viện Hán Nôm. Về sau, quá tŕnh đưa
chữ Nôm vào bảng mă ISO 10646 của chúng ta gần như thành
công trọn vẹn, như lời kể tóm tắt của anh Ngô Trung Việt
(Viện CNTT) cùng đăng trong e-CHÍP số này.
Đưa được chữ Nôm vô bảng mă quốc tế là một thắng lợi có
ư nghĩa của Việt Nam, song chúng ta không thể dừng lại ở
đó. Cần ứng dụng các công nghệ mới vào việc giải quyết
tiếp tục một số vấn đề về tư liệu, về kỹ thuật in ấn chữ
Nôm,... sao cho mỗi khi phát hiện được h́nh chữ mới của
chữ Nôm trên các văn bản th́ cho dù nó xuất xứ từ đâu ở
khắp thế giới, chúng ta có thể tiếp nhận và đưa vào bảng
mă chung rất nhanh thông qua mạng Internet mà không phải
đến tận nơi để lấy.
Cần có sự hợp tác giữa các chuyên gia CNTT với các
chuyên gia chữ Nôm. Các chuyên gia chữ Nôm là những
người đặt hàng, để tránh t́nh trạng các chuyên gia CNTT
nói rằng “chúng tôi chỉ làm được tới đó tới đó, các anh
không dùng được th́... rán chịu v́ không c̣n ai khác làm
nữa”! |
|
GS Ngô Thanh Nhàn: Nôm Lookup Tool (NLT) - một diễn đàn
Hữu Thiện ghi |
Thật là may khi chúng tôi có một nhóm “già mà đi bộ”,
trong đó có chị Lê Phạm Ngưng Hương và anh Hồ Văn Tiến ở
Thuỵ Sĩ, chị Lê Mai Phương ở Bỉ, anh Ngô Trung Việt ở
Việt Nam để hợp tác xây dựng NLT
(http://nomfoundation.org/unicode/lookup.php) như một
nơi hội tụ những ư kiến khác nhau trong việc xử lư chữ
Nôm. Chúng tôi muốn NLT là chỗ để... căi nhau về những ư
kiến mới trong công nghệ xử lư chữ Nôm để t́m ra cách
làm hay nhất, sao cho tất cả cùng có lợi khi h́nh thành
và phát triển một bảng tra chữ Nôm trên mạng cho mọi
người đều dùng được.
Trong bảng mă chuẩn quốc tế, chữ Nôm vẫn c̣n là một loại
chữ mới, đ̣i hỏi phương pháp xử lư không đơn giản chút
nào. V́ vậy, chúng tôi lôi vào NLT tất cả kiến thức của
Khang Hy từ điển, của Unicode, của tất cả các chuyên gia
Nhật - Trung - Triều. Nhờ vậy, người dùng NLT có thể
dùng được Khang Hy từ điển mà không cần phải mua một
quyển từ điển này. Đây là một trong các điểm chính mà
các thầy đều thích.
Mặt khác, chúng tôi phân ra bộ, giúp cho mỗi khi gặp một
chữ Nôm mới, ta chỉ cần nhận ra được một phần trong đó
là có thể t́m ra được chữ ấy (so với ở Khang Hy từ điển,
chỉ khi nào biết đúng một chữ Hán th́ may ra mới t́m
được). Chúng tôi cũng bắt đầu bỏ mă Thương Hiệt vào NLT
để xem mă này có hay hơn chữ quốc ngữ trong việc đi t́m
chữ Nôm. Có người đă dùng chữ quốc ngữ để t́m chữ Nôm và
kết quả tốt hơn việc dùng chữ Pinyin (chữ Quan thoại
la-tinh hóa) để t́m chữ Hán, nhờ chữ quốc ngữ có dấu và
những đặc thù rất hay...
Chúng tôi rất chú ư đến vấn đề những bạn trẻ ngày càng
sử dụng chữ Nôm nhiều hơn, ngay cả trong việc họ thiết
kế hay chơi games có chữ Nôm trong đó để tái hiện đúng
khung cảnh lịch sử (như ở thời Nguyễn Trăi chẳng hạn).
Khi tôi đi nói chuyện về quyển thơ Hồ Xuân Hương mà
chúng tôi làm thành công ở Hoa Kỳ, các bạn trẻ bên ấy
rất thích v́ người Việt ta có cả chữ quốc ngữ và chữ
Nôm. Từ đó, họ cũng có nhu cầu muốn đưa tên ḿnh bằng...
chữ Nôm lên mạng, trông rất đẹp. NLT phải giúp người ta
làm được như vậy trên mạng mà không cần có bộ font.
Đó là một yêu cầu đơn giản từ phía người dùng song lại
đặt ra những yêu cầu mới về xử lư kỹ thuật với chúng
tôi. Cũng từ đó nảy ra sáng kiến mới của anh Đỗ Bá
Phước: Dùng công nghệ SVG (scalar-vector graphics - đồ
hoạ vectơ vô hướng) để không cần có font vẫn có thể xem
được chữ Nôm biểu ư. Tiếp theo, lại có thêm một sáng
kiến khác từ chị Lê Phạm Ngưng Hương: Chữ Nôm được hiển
thị như ảnh .jpeg, tiện sao - dán vào tài liệu (LTS: Các
bạn có thể xem lại bài “Với Nôm Lookup Tool: Chữ Nôm lại
nhú mầm trở lại…”, e-CHÍP số 17, trg 12-14). |
|
|
|