Trang chủ Hiệp sĩ CNTT Tin tức Hiệp Sĩ CNTT Chân dung Hiệp Sĩ CNTT H́nh ảnh Hiệp Sĩ CNTT

Chuyện kể của một Hiệp sĩ CNTT:
Người khiếm thị Việt Nam du học ở Hoa Kỳ (*)
LÊ DÂN BẠCH VIỆT
(Philadelphia)

Lời ṭa soạn: Thầy giáo khiếm thị Lê Dân Bạch Việt tốt nghiệp Nhạc viện TP.HCM (hệ đại học) năm 1987 và trở thành giáo viên âm nhạc của Trường phổ thông đặc biệt Nguyễn Đ́nh Chiểu, TP.HCM. Cũng từ đó, anh thường xuyên tham gia các hoạt động hỗ trợ người khuyết tật. Anh cùng với Thạc sĩ Đinh Điền (GV Khoa CNTT trường Đại học KHTN TP.HCM) biên soạn từ điển và phần mềm soạn thảo văn bản cho người khiếm thị trên DOS (năm 1998). Năm 2003, tham gia t́m kiếm tài liệu, dịch thuật và thử nghiệm phần mềm đọc trang Web tiếng Việt cho người khiếm thị do thầy giáo Nguyễn Minh Hùng (ĐH Sư phạm, TP.HCM) và thầy giáo Đỗ Minh Hoàng Đức (trường Nguyễn Đ́nh Chiểu, TP.HCM) thực hiện. Trong thời gian du học tại Philadelphia (Mỹ), anh đă vận động thành công sự tài trợ bản quyền phần mềm Goodfeel - dịch nhạc từ chữ sang nhạc braille - cho người mù Việt Nam được sử dụng miễn phí.

Tháng 8-2005, Lê Dân Bạch Việt được Tạp chí e-CHÍP tôn vinh danh hiệu Hiệp sĩ CNTT 2005.

Xin trân trọng giới thiệu bài viết từ Hoa Kỳ gửi về của anh Bạch Việt, "sinh viên" khiếm thị duy nhất trong số 27 người nhận được học bổng của chương tŕnh Học bổng Hữu nghị Quốc tế của Quỹ Ford (tuyển chọn từ 391 ứng viên ở nhiều nước trên thế giới).
Tôi đến Hoa Kỳ vào ngày 3 tháng 8 năm 2004 để theo học ngành giảng dạy Định hướng và di chuyển cho người khiếm thị tại trường Đại học Pennsylvania College of Optometry (PCO) ở bang Philadelphia. Trung tâm Trao đổi Giáo dục với Việt Nam (CEEVN) của Quỹ Ford đă xếp đặt cho chị Hương thời điểm đi công tác ở Philadelphia để "hộ tống" tôi lên đường trong khi các bạn cùng chương tŕnh IFP của tôi đều tự đi.

Những thử thách đầu tiên
Khó khăn đầu tiên chính là việc tự nấu ăn, đi chợ... Nhưng khó khăn lớn nhất là việc tham gia vào một lớp học ảo, phương thức học online hoàn toàn mới mẻ đối với tôi. Lần đầu tiên tiếp cận một trang Web mới, không nh́n thấy chỗ nào là thông báo của lớp học, tài liệu, nội dung thảo luận và bài tập ở đâu nên tôi phải ́ ạch măi suốt cả tuần lễ ṃ mẫm để làm quen với giao diện của nó.

Tôi cũng không biết cách đặt sách đặc biệt cho ḿnh. Một cô bạn khiếm thị người Mỹ học TVI chia cho tôi vài quyển trên file Word. Khổ nỗi, v́ không nh́n thấy nên có nhiều trang, cô ấy scan ngược đầu hay chồng lấn trang giấy khiến phần mềm Jaws phát âm thành những thứ tiếng “lạ” chứ không phải tiếng Anh. Thế là toàn bộ tài liệu lớp học trên file PDF, Jaws đều không đọc được. Sau nhờ có các bạn sinh viên Mỹ đến thăm và báo với trường và đến giữa tháng 10, nhà trường bắt đầu giúp đặt sách cassette và t́m t́nh nguyện viên đọc sách vào băng cassette cho tôi. Nhưng v́ là người nước ngoài, khi chỉ nghe mà không tiếp cận với mặt chữ, tôi cảm thấy khó ghi lại các ư cơ bản và viết cho đúng chính tả để làm bài, nhất là các môn học với nhiều thuật ngữ y khoa như bệnh mắt, những môn học phải tiếp cận với bảng biểu, với toán trên Excel Professional.

Lớp học lại hay dùng băng video minh họa mà ḿnh lại không nh́n thấy. Các sinh viên Mỹ rất ngạc nhiên khi tôi vẫn dùng bảng viết và dùi viết Braille truyền thống với giấy là tạp chí cũ. Ở Mỹ, học sinh khiếm thị tiểu học lớp 2, 3 đă dùng thiết bị Braille Note - giá từ 4.000 USD đến 6.000 USD - với máy in chữ thường nên khi làm bài trắc nghiệm có thể in thẳng ra chữ thường cho thầy cô sáng mắt chấm bài.

Khó khăn trong sự thích ứng văn hóa xă hội và học tập đă làm nhăn áp của tôi lên đến 25.62 vào cuối tháng 11, nhưng rất may sau khi khám nhiều lần tại viện mắt của trường, tôi không bị bệnh tăng nhăn áp (glaucoma), c̣n vết đen trôi tự do trong thị trường chưa ảnh hưởng lớn v́ nó ở thủy tinh thể (lens) chớ không phải ở vơng mạc (retina). Tôi thở phào nhẹ nhơm.

Ấm áp t́nh người

Bạn sinh viên Mỹ đầu tiên giúp tôi là Aron, anh ấy thường đến chở tôi đi chợ và hướng dẫn nhiều thủ tục... C̣n Karen th́ bê đến cho mượn cả TV và máy nghe CD. Các bạn cũ của tôi ở Nhạc viện TP.HCM cũng nối liên lạc với tôi. Công Minh từ Baltimore đă qua với một xe ḿ gói và sữa Ensure; Tùng Châu gửi đến một radio, máy scanner... Việc đi chợ thực sự khó khăn v́ các bạn sinh viên Mỹ cũng không rành chợ búa. Tôi phải e-mail về Việt Nam để xem có ai quen bạn bè ở Philadelphia có thể giúp. Lời yêu cầu nhanh chóng được hồi âm, các anh chị người Việt sống ở Philadelphia qua sự giới thiệu của seour Vân Nga ở Mái ấm Nhật Hồng đă t́m đến đúng lúc khó nhất.

Trường cũng gửi thư đến thẳng nhà xuất bản, yêu cầu họ gửi CD sách về bệnh mắt đến cho tôi, và giúp đặt sách đánh trên file word từ American Foundation for the Blind. CEEVN cung cấp một màn h́nh Braille (Braille Star). Theo quy định của luật Mỹ th́ tôi được tăng thời gian làm bài gấp đôi, tôi cũng phản ảnh với giáo sư là cách tŕnh bày câu hỏi (marching) theo chiều ngang rất khó hiểu khi Jaws đọc và yêu cầu chuyển theo format chiều dọc.

Kết thúc học phần đầu tiên với một lớp điểm A và bốn lớp điểm B, tôi thuận lợi hơn khi bước vào học phần thứ 2, cũng là học phần mùa xuân (spring semester). Kết quả học phần thứ 2 tôi đạt hai lớp điểm A và ba lớp điểm B. Tôi thấy hài ḷng v́ ḿnh chuyển từ ngành âm nhạc sang học một ngành có tính chất tổng hợp giữa khoa học xă hội và khoa học tự nhiên mà được kết quả như vầy là tốt rồi. Khóa học mùa xuân kết thúc, bạn cũ đă ra trường thực tập hết, tôi lo ngại cho khóa hè v́ là khóa quan trọng nhất, học kỹ thuật đi gậy, đi đường và dự giờ ở nhiều nơi khác nhau trong thành phố và cả tiểu bang khác. Làm sao đây?

Thật là may, khóa mới có 4 sinh viên (kể cả tôi), trong đó có Anh Thy là một người Việt Nam sống ở San Jose (California). Anh Thy mang cả xe theo, nhờ vậy cô giúp tôi đi dự giờ, đi chợ, kể cả viết séc thanh toán tiền nhà, tiền điện... Thậm chí gia đ́nh bạn trai của Thy c̣n gửi đồ lên cho cả hai chúng tôi. Thảo Vy lại giúp cho phần mềm scan sách mới tốt hơn. Thời gian hè, chúng tôi phải học kín tuần và có khi học cả 3 buổi, nhưng cũng chính lúc đó chúng tôi làm được nhiều việc nhất. Scan cả ngàn trang sách để nghe và học (mỗi trang mất hơn 90 giây), và có nhiều hoạt động hướng về các bạn khiếm thị trong nước. Học phần hè kết thúc, tôi đạt 3 lớp A trên 6 lớp, các giáo sư đều hài ḷng.

Theo đuổi ngành học này, ngoài kiến thức cũng cần có chút can đảm v́ những người sáng mắt như 3 bạn c̣n lại và tôi đều bị che mắt tập đi, nhiều người sợ khi nghe quá nhiều tiếng xe trên các giao lộ ở Philadelphia vào giờ tan sở, hoặc tập đi thang cuốn (escalator). Một sinh viên Mỹ đă phải bỏ học v́ thường xuyên bị lạc hướng và gặp khó khăn cá nhân nên học phần mùa thu chỉ c̣n lại 3 người. Vào học phần mùa xuân 2006 sắp tới, lớp học sẽ chỉ c̣n 2 sinh viên là tôi và Anh Thy, đều là người Việt và thế là chúng tôi sẽ học qua mạng là chính do lớp quá ít sinh viên. Các giáo sư của chúng tôi nói, chưa bao giờ họ gặp trường hợp chỉ có 2 sinh viên trong một lớp như vậy trong cuộc đời đi dạy của họ. Hơn thế nữa, cả 2 đều là người Việt Nam, là đất nước họ có nhiều cảm t́nh nên họ cũng quư chúng tôi. Một lư do khác nữa là v́ chúng tôi đă quyết tâm chọn ngành này, vốn rất cần nhưng lại hiếm người theo học v́ công việc nhọc nhằn nhưng lương thấp, kể cả ở Hoa Kỳ.

(*) Tựa bài do e-CHÍP đặt.

Tết xa nhà
LÊ DÂN BẠCH VIỆT
(Gửi từ Philadelphia)

Anh Lê Dân Bạch Việt là một giáo viên khiếm thị ở trường Nguyễn Đ́nh Chiểu (TP.HCM) đang theo học ngành giảng dạy Định hướng và di chuyển cho người khiếm thị (Orientation & Mobility for Persons with visual Impairments) tại trường đại học Pennsylvania College of Optometry (PCO) ở Philadelphia. Với những nỗ lực xây dựng các phần mềm hỗ trợ hiệu quả cho người khiếm thị ở Việt Nam, anh đă được Tạp chí e-CHÍP tôn vinh danh hiệu Hiệp sĩ CNTT năm 2005. e-CHÍP xin trích đăng sau đây một đoạn trong e-mail của anh gửi về vào những ngày cuối năm như một sự sẻ chia, tâm sự của một người xa quê hương trong thời khắc giao mùa đón chào năm mới.

Năm nay nữa là hai cái Tết tôi cách xa gia đ́nh thân yêu ở Việt Nam nửa ṿng trái đất.

Năm rồi khi trường Nguyễn Đ́nh Chiểu (TP.HCM) tổ chức liên hoan mừng xuân, tôi gọi vào máy di động của một giáo viên ở trường và mọi người chuyền tay nhau cho tôi nói chuyện. Tôi muốn nghe tiếng của các đồng nghiệp của ḿnh, mỗi người một chút và gặp càng nhiều người càng tốt cho đến khi hết tiền phonecard. Ngày mồng Một Tết Ất Dậu nhằm thứ Tư, v́ thế tôi vẫn đi học b́nh thường. Tôi chỉ dậy sớm để gọi điện chúc Tết gia đ́nh.

Ở Mỹ, tôi được gặp Thảo Vy - cô gái 24 tuổi khiếm thị bẩm sinh - t́nh cảm luôn hướng về những người bạn đồng tật ở Việt Nam. Thảo Vy đóng góp rất nhiều cho các bạn ḿnh, cô cũng là người giúp tôi nhiều nhất về kinh nghiệm học tập, gửi cho tôi chiếc cassette 4 track khi tôi được gia nhập vào Thư viện Quốc hội Mỹ theo giới thiệu của trường Đại học Pennsylvania College of Optometry (PCO) ở Philadelphia. Tôi đă liên kết được với anh em khiếm thị Việt Nam tại Hoa Kỳ, có nhiều người sống lâu năm ở đây và trưởng thành trong nền giáo dục Mỹ. Noel 2004, Minh - bạn học hồi ở Nhạc viện TP.HCM - đưa về Virginia và sau đó tôi đến ở với Hùng trong suốt một tuần. Hùng là một người khiếm thị chỉ quen trên mạng, nhưng những ngày sống với vợ chồng Hùng tôi thu thập được nhiều. Hùng chia cho tôi phần mềm đọc và scan sách, có thể mở được file PDF, và hướng dẫn kinh nghiệm cho tôi. Lúc nào tôi cũng nhớ về gia đ́nh và bạn bè ở Việt Nam. Thảo Vy và tôi tṛ chuyện với nhau thường xuyên. Vy đă lập ra maillist “khiemthiVN” để trao đổi thông tin về computer và kỹ thuật cho người Việt khiếm thị khắp thế giới, tôi chỉ giúp Vy t́m những người bạn trẻ để dịch một số bài sang tiếng Việt để mọi người cùng xem. Tôi cố gắng làm bất kỳ điều ǵ trong khả năng của ḿnh như gửi tài liệu và viết bài bằng tiếng Anh cho Thư viện Khoa học Tổng hợp TP.HCM để nơi đây chuyển cho Force Foundation vận động kinh phí tại Hà Lan giúp người khiếm thị Việt Nam.

Những người khiếm thị cảm nhận ngày Tết qua âm thanh, thức ăn, mùi vị. Trong hành trang của tôi đến Mỹ có cả một cây đàn mandolin. Những ngày ấy, tôi đàn những bản nhạc Xuân cho riêng ḿnh nghe, vừa đàn qua điện thoại cho một số bạn cùng đi học nghe. Cây mandolin vẫn ở bên cạnh tôi suốt những tháng năm qua. Vẫn biết rằng những t́nh khúc chỉ là sợi chỉ mong manh và trừu tượng so với khoảng cách dù chỉ là một múi giờ tại đất Mỹ, nhưng nó sẽ phân biệt ḿnh với những người khác. Tết năm nay có lẽ sẽ đến vào lúc cao điểm của mùa đông, khi ngoài trời chỉ có hoa tuyết, mặt đất phủ toàn màu trắng, việc ra đường đối với những người khiếm thị như tôi sẽ rất khó khăn trong việc định hướng. Đó là chưa kể những đụn tuyết cao ngất cản bước chân và đường gậy của tôi. Chắc lại một ḿnh trong pḥng, tự đàn cho ḿnh nghe rồi cũng không biết có c̣n ai muốn nghe đàn qua điện thoại nữa không? Rồi vào Internet nghe hay "xem" các chương tŕnh phát thanh truyền h́nh trong nước và mong sao khóa học sớm kết thúc để đến ngày về nước.

Tôi mang chiếc đàn đến Mỹ chỉ để tự đàn với những kỷ niệm ấu thơ ở trường mù La San, rồi những năm học phổ thông tại Phân hiệu Văn hóa của Nhạc viện. Âm thanh từ cây đàn của tôi cũng nhắc về các thầy cô đă dạy văn hóa, dạy sinh ngữ cho tôi với sự tận tụy dù các thầy cô không có kỹ năng sư phạm về giáo dục đặc biệt cho người mù - thậm chí có người c̣n không có cả chuyên môn sư phạm - có cả những người bạn ngồi đọc những ḍng thầy viết trên bảng, có bạn chở đi học,... Tôi cũng nhớ lại rất nhiều lần ḿnh và học sinh ḿnh bị xe quẹt trên đường lại c̣n bị cằn nhằn. Cây đàn đă sưởi ấm tâm hồn tôi trong những ngày đông lạnh giá ở đây trong lúc Tết đến Xuân về ở quê nhà.

Tháng 8-2006, kết thúc khóa học, tôi sẽ để cây đàn này lại như gửi lại t́nh cảm thân thương của tôi tới những người Việt Nam sống ở Mỹ đă đối xử với tôi như anh em trong gia đ́nh, với bạn bè, thầy cô.