|
Hòn tuyết lăn
Facebook |
|

Diễn viên Jesse Eisenberg (giữa,
trái) vào vai Mark Zuckerberg (giữa, phải) trong The
Social Network (minh họa của tạp chí Wired) |
|
Phim truyện The Social Network (Mạng xã
hội) với nội dung dựa trên quyển sách The Accidental
Billionaires (Những tỉ phú tình cờ) được giới truyền
thông tại Mỹ đánh giá là phim hay nhất của năm 2010.
Phim nhận được phản hồi tích cực từ hầu hết các bài bình
luận phim và các website xếp hạng phim (như Rotten
Tomatoes). The Social Network có đầy đủ yếu tố
"hỉ-nộ-ái-ố" để thu hút công chúng điện ảnh nhưng dường
như toát lên nhận định sai lệch: Facebook đồng nghĩa với
mạng xã hội. Nói cho chính xác, Facebook là mạng xã hội
duy nhất hiện nay tạo được hiệu ứng "hòn tuyết lăn" trên
phạm vi toàn cầu. |
|
Ngoài việc tham khảo điểm xếp hạng phim tại
Rotten Tomatoes (http://www.rottentomatoes.com/),
những người yêu thích điện ảnh thường tìm đọc bài nhận
định của Roger Ebert (http://rogerebert.suntimes.com/)
- nhà bình luận phim danh tiếng.của báo Chicago
Sun-Times. Đối với The Social Network, Ebert chỉ có lời
khen ngợi. |
|
"The Social Network là câu chuyện về một
thanh niên có khả năng phi thường, nhìn thấy được con
đường thành công trong vô vàn con đường khả dĩ. Tên của
anh là Mark Zuckerberg, người sáng lập Facebook, người
trở thành tỉ phú ở tuổi đôi mươi. Zuckerberg khiến tôi
nhớ đến vua cờ Bobby Fischer. Cả hai đều thể hiện hội
chứng Asperger: có tài năng bẩm sinh nhưng kỹ năng giao
tiếp xã hội chậm phát triển". |
|
Với Ebert, ngoài những lời thoại sắc sảo và
tình tiết hấp dẫn, điều thú vị mà phim The Social
Network đem đến cho ông là sự trớ trêu: người sáng lập
mạng xã hội Facebook lại là người chậm chạp trong giao
tiếp xã hội, không lịch lãm, không có kinh nghiệm nhân
tình thế thái. Phim thể hiện rõ điều đó qua sự thất bại
của Zuckerberg trong cuộc tình đầu tiên. Trước cô gái
thông minh mà anh yêu, Zuckerberg không chứng tỏ được
phản ứng ngôn ngữ nhạy bén - điều thường được xem là sự
thể hiện của đẳng cấp trí tuệ, đặc biệt trong giới sinh
viên Đại học Harvard. |
|
"Để có được Facebook, chúng ta phải cảm ơn
một phụ nữ mang tên Erica (diễn viên Rooney Mara). The
Social Network bắt đầu với cảnh hẹn hò giữa Erica và
Zuckerberg (diễn viên Jesse Eisenberg). Zuckerberg vừa
nhấm nháp ly bia, vừa căng thẳng trả lời Erica trong một
trò chơi ứng đối nhanh. Erica chán nản bỏ đi vì cho rằng
Zuckerberg chỉ là người tầm thường. |
|
Erica (nhân vật hư cấu) nhận định không sai
nhưng từ giây phút đó, cô đã khởi động sự nghiệp kinh
doanh của Zuckerberg. Anh trở về nhà, nốc bia nhiều hơn
và bắt đầu tìm cách xâm nhập "facebook" của Đại học
Harvard để thu thập ảnh chân dung của những nữ sinh
viên. Zuckerberg lập trình một trang web cho phép xếp
hạng vẻ đẹp của họ. Đó là hành vi phân biệt giới tính và
bất hợp pháp nhưng trang web thu hút giới sinh viên
Harvard nhiều đến nỗi làm tê liệt máy chủ của nhà
trường. Sau thời gian áp dụng ý tưởng của mình cho
website "The Harvard Connection", Zuckerberg xây dựng
nên Facebook. |
|
Về lý thuyết, số lượng nước cờ khả dĩ trên
bàn cờ nhiều hơn cả số lượng phân tử trong vũ trụ. Các
vua cờ không thể tính toán mọi nước cờ khả dĩ nhưng bằng
trực giác, họ "thấy" được nước cờ giành chiến thắng
trong số lượng nước cờ gần như vô hạn. Với khả năng như
vậy, Bobby Fischer vô địch trong môn cờ vua. Tương tự,
tuy công nghệ lập trình và ngôn ngữ lập trình được phổ
biến rộng rãi, nhưng chỉ có Zuckerberg mới tìm thấy khả
năng áp dụng chúng cho mạng xã hội dựa vào trực giác của
anh. Sự thành công của Facebook không xuất phát từ sự am
hiểu tâm lý con người mà từ sự nắm bắt phương thức kết
nối con người, cho phép họ tương tác qua mạng để thể
hiện mình. Zuckerberg muốn trả đũa mọi nữ sinh viên ở
Harvard. Anh đã đặt họ vào một ma trận phát triển không
ngừng. |
|
Người ta cho rằng thiên tài của trẻ em chỉ
thể hiện ở ba lĩnh vực: toán, nhạc và cờ. Đó là ba lĩnh
vực không dùng tư duy ngôn ngữ, không đòi hỏi kinh
nghiệm sống, không đòi hỏi sự hiểu biết bản chất con
người. Đó là ba lĩnh vực đòi hỏi tư duy hình tượng, óc
luận lý và sự liên tưởng. Tôi nghĩ rằng lĩnh vực lập
trình máy tính có thể là lĩnh vực thứ tư". |
|
Ebert cho rằng phim The Social Network là
phim rất thú vị, dàn dựng khéo léo để có thể tường thuật
hấp dẫn về một tài năng lập trình (nếu không, ai có thể
theo dõi trong hai giờ liền một tài năng lập trình ngồi
gõ bàn phím?) và giải thích một cách dễ hiểu về "hiện
tượng Facebook". |
|
Không khó đoán rằng Ebert đang "hiện diện"
ở Facebook và từng thụ hưởng những tiện ích của
Facebook. Nhận định của ông, sự ngưỡng mộ của ông đối
với Facebook và tài năng của Zuckerberg phần nào phản
ánh cách nhìn của công chúng điện ảnh, theo đó sự hư cấu
đôi khi "định nghĩa" thực tại trong tiềm thức.
Zuckerberg "ngoài đời" phải đính chính rằng kịch bản
phim có nhiều chi tiết không đúng sự thực vì được viết
ra để lôi kéo khán giả đến rạp. |
|
Trên tất cả, Facebook không phát minh mạng
xã hội và cuộc cạnh tranh mạng xã hội vẫn chưa kết thúc.
Phim The Social Network vun đắp cho "huyền thoại
Facebook" hơn là lý giải thành công của Facebook. Nguyên
nhân thành công của Facebook không bắt nguồn từ một cuộc
tình tan vỡ, mà nằm trong xu thế phát triển tất yếu của
mạng xã hội, khởi đầu từ trước khi có World Wide Web. |
|
Trong thập niên 1980, khi sự kết nối giữa
các máy tính còn được thực hiện qua đường điện thoại
bằng cách quay số, các dịch vụ CompuServe, Prodigy,
GEnie, AOL tại Mỹ đã tạo nên mạng xã hội vì nó đáp ứng
nhu cầu giao tiếp xã hội hằng ngày: nhu cầu liên lạc
giữa những người quen biết, nhu cầu giao dịch, kết bạn
giữa những người không quen biết nhằm mua bán, nhằm chia
sẻ kiến thức trong lĩnh vực cùng quan tâm hoặc nhằm tìm
kiếm người hôn phối. |
|
Các dịch vụ mạng xã hội thời đó tạo nên
những lãnh địa cô lập. AOL là dịch vụ lớn mạnh nhất, đến
với người dùng qua đường truyền internet, trong đó mỗi
thành viên phải nộp 20 USD mỗi tháng chỉ để được phép
kết nối với máy chủ AOL. |
|
Giữa thập niên 1990, sau khi World Wide Web
xuất hiện, Yahoo! nhanh chóng lấn át vai trò của AOL nhờ
dựa vào mô hình kinh doanh khác hẳn: cung ứng dịch vụ
mạng xã hội miễn phí dựa vào quảng cáo. Yahoo! Groups
trở thành phương thức chuẩn để hình thành trên mạng
những cộng đồng trường học, tôn giáo, nghề nghiệp. |
|
Với trào lưu Web 2.0, mạng xã hội ngày càng
mở rộng. Không chỉ Yahoo!, lần lượt nở rộ nhiều dịch vụ
mạng xã hội khác: Plaxo, LinkedIn, Friendster, MySpace.
Đồng thời, xuất hiện hình thái giao tiếp thông qua nhật
ký trực tuyến (blog) với các dịch vụ Blogger, Typepad,
WordPress. Trong mạng xã hội lớn, tình trạng ẩn danh trở
nên phổ biến. Khi "người ảo" chiếm ưu thế, sự giao tiếp
trong "xã hội mạng" ít nhiều mất đi ý nghĩa từng có. |
|
Với Facebook, mạng xã hội trở lại hình thái
ban đầu với mức độ phát triển cao hơn. Xuất phát từ ý
tưởng facebook quen thuộc trong trường đại học nhằm làm
cho mọi thành viên biết rõ "ai là ai", Facebook phục vụ
cho những người có mối liên hệ thực, những cộng đồng
thực. Những "người ảo" không tìm thấy ích lợi ở
Facebook. |
|
Facebook phát triển nhanh chóng lạ thường
vì Facebook giúp người dùng nhận diện những người thực
mà họ từng quen biết, tiếp cận với những người thực mà
họ muốn quen biết. Facebook lại không thu phí từ người
dùng, không sống dựa vào sự hiển thị quảng cáo. Từ khi
khởi nghiệp, Zuckerberg kiên trì thực hiện mô hình kinh
doanh mới dựa trên sự tích lũy dữ liệu. Hệ thống dịch vụ
của Facebook và dịch vụ dựa trên nền tảng dữ liệu của
Facebook có "vô vàn" cơ hội khi Facebook hiểu rõ "sơ đồ
giao tiếp xã hội" của từng người thực. Facebook đang trở
thành lãnh địa riêng biệt trên web, trong đó có sẵn mọi
dịch vụ cần thiết cho giao tiếp xã hội, kể cả việc mua
bán. Những thành viên Facebook là công ty, tổ chức đang
thực hiện vai trò của một "website" trong lòng Facebook. |
|
Việc nới lỏng chính sách bảo vệ sự riêng tư
ở Facebook là hệ quả tất yếu. |
|
Khi Facebook bắt đầu nới lỏng chính sách
bảo vệ sự riêng tư, hầu hết người dùng không cảm thấy
mất mát. Chỉ rải rác đây đó những ý kiến phản đối. |
|
Ngày 24/4/2010, bốn sinh viên của Đại học
New York - Ilya Zhitomirskiy, Dan Grippi, Max Salzberg
và Raphael Sofaer - khởi xướng phong trào Defacebook
(tẩy chay Facebook) với việc công bố dự án nguồn mở
Diaspora (http://joindiaspora.com/).
Qua tên gọi dự án, nhóm Diaspora dự định xây dựng "mạng
xã hội phân tán" có chức năng (và cả giao diện) tương tự
Facebook. Nhờ vậy, mọi cộng đồng thực hoặc từng cá nhân
có thể tự xây dựng "Facebook" cho mình, chạy trên máy
chủ của riêng họ, bảo đảm quyền tự chủ đối với thông tin
cá nhân. Thành viên của các mạng xã hội Disapora khác
nhau có thể liên lạc với nhau như thuộc cùng một mạng
nhờ sử dụng thống nhất giao thức mở, tựa như trường hợp
của thư điện tử. |
|
Để có tiền thực hiện dự án, nhóm Diaspora
kêu gọi quyên góp. Thật lạ lùng, chỉ 12 ngày sau lời kêu
gọi, nhóm Diaspora nhận được 10.000 USD từ những người
không quen biết. Lạ lùng hơn, trong số những người góp
tiền cho Diaspora có Zuckerberg với lý do đơn giản: "Họ
làm tôi nhớ lại thời sinh viên của mình". |
|
Liệu một ngày nào đó "hòn tuyết lăn"
Facebook sẽ dừng lại và hao mòn? |
|

Bốn thành viên của nhóm Disapora (từ trái
qua): Ilya Zhitomirskiy, Dan Grippi, Max Salzberg,
Raphael Sofaer |
|
NGỌC THẠCH |
|
[Đầu trang] |