|
Thời trang Web
2.0 |
|
Những cộng đồng sôi động của thời đại
Web 2.0 tạo ra dòng thác nội dung số bất tận tại
YouTube, Flickr, Facebook, Twitter,... Tuy nhiên, "sản
phẩm" của Web 2.0 không chỉ là nội dung số. Dựa vào sức
sáng tạo cộng đồng, Công ty Threadless (http://threadless.com)
đều đặn tung ra hàng trăm mẫu áo thun mới mỗi tuần dù
không hề có nhân viên thiết kế, nhân viên tiếp thị
chuyên nghiệp. |
|
Jake Nickell ngần ngại bước vào một phòng
học trong khuôn viên của học viện lừng danh MIT
(Massachusetts Institute of Technology - bang
Massachusetts. Mỹ) vào một buổi sáng mùa thu năm 2005.
Trong phòng đã có nhiều người, gồm lãnh đạo của các
doanh nghiệp lớn, các nhà nghiên cứu của MIT và của
nhiều trường kinh doanh. Nickell đến MIT theo lời mời
của Eric von Hippel - người chủ trì cuộc hội thảo về Sự
cách tân của người dùng (User Innovation). |
|
Sau lời giới thiệu nhiệt tình của Hippel,
mọi cặp mắt đổ dồn vào Nickell khiến anh lúng túng. Anh
không hiểu rõ nhiều thuật ngữ trong những câu nói của
Hippel và cảm thấy không thoải mái lắm với môi trường
học thuật của MIT. Nickell không có bằng đại học, nhưng
anh có trong tay Công ty Threadless với doanh số 5 triệu
USD mỗi năm. Hippel gọi Threadless là ví dụ hoàn hảo cho
lý thuyết "khách hàng là công ty" mà ông từng đề cập
trong nhiều bài báo từ thập niên 1970, theo đó, khách
hàng chính là nguồn lực sáng tạo của công ty, chứ không
phải bộ phận chuyên trách thiết kế, nghiên cứu. |
|
Sau chút ngập ngừng, Nickell bắt đầu kể về
con đường của anh. Cử tọa im phăng phắc, chăm chú lắng
nghe, dường như không để ý anh chàng nhỏ thó trong chiếc
áo thun lòe loẹt, râu tóc bờm xờm nhưng mặt mũi non
choẹt, hoàn toàn không có dáng vẻ của một doanh nhân
thành đạt. |
|

Jake Nickell |
|
Vào năm 2000, ở tuổi 20, Nickell làm nhân
viên bán hàng cho Công ty CompUSA. Sau giờ làm, anh theo
học lớp tối của Trường Mỹ thuật Illinois. Bất cứ khi nào
có thể, Nickell thích mày mò tự học thiết kế Web, thích
giao lưu qua mạng với những họa sĩ thiết kế tại địa chỉ
Dreamless.org. Vào lúc đó, Dreamless.org luôn sôi động
với những cuộc thi Photoshop nhằm tạo những tác phẩm đồ
họa "không mơ thấy nổi", càng điên càng tốt! |
|
Sau một lần chiến thắng ở Dreamless.org,
khi muốn in tác phẩm "để đời" của mình ra giấy, Nickell
chợt nghĩ đến rất nhiều kiệt tác ở Dreamless.org quẩn
quanh trong các cuộc thi rồi rơi vào quên lãng, không
được dùng vào việc gì cả. Nếu sau mỗi cuộc thi, các tác
phẩm tốt nhất được in lên áo thun để bán? Từ ý tưởng ban
đầu như vậy, Nickell hình dung một địa chỉ trên mạng
nhận trưng bày các mẫu thiết kế áo thun từ những thành
viên. Khách viếng thăm có thể cho điểm các mẫu áo thun
và đặt mua áo thun theo mẫu mình yêu thích. |
|
Nickell trình bày ý tưởng kinh doanh với
Jacob DeHart - một chuyên viên lập trình Web tài năng.
DeHart lập tức tán thành. Nickell cũng rủ rê được
Jeffrey Kalmikoff - một "cao thủ" có nhiều sáng tạo ở
Dreamless. Mỗi người góp 500 USD để làm thủ tục thành
lập công ty. Với cảm hứng từ tên gọi Dreamless, Nickell
đặt tên cho công ty của mình là Threadless nhằm nhấn
mạnh rằng đây là doanh nghiệp cung cấp mặt hàng áo thun
nhưng tập trung vào sáng tạo, không phải công ty may
mặc. |
|
Nickell tìm được trụ sở cho công ty ở vị
trí "tuyệt hảo", nằm gần hai đối tác quan trọng: một
công ty chuyên doanh áo thun, một xưởng in lụa và thêu
máy. Trụ sở của "công ty áo thun" Threadless chỉ có máy
tính. Bộ ba Nickell, DeHart và Kalmikoff tập trung vào
việc thiết kế và lập trình Web để nhanh chóng khai
trương Threadless.com. |
|
Nickell mời mọc mọi thành viên của
Dreamless.org tham gia Threadless.com. Threadless tổ
chức những cuộc thi hấp dẫn hơn Dreamless với phần
thưởng là hai chiếc áo thun in hình tác phẩm đoạt giải,
cùng một khoản "ăn chia" trong mỗi áo thun bán được (với
giá 12 USD). Trong năm 2002, số thành viên của
Threadless tăng vọt đến 10.000, hầu hết là "họa sĩ thiết
kế" ở tuổi thiếu niên và tuổi đôi mươi. Hầu như mọi
thành viên đều muốn mặc áo thun theo thiết kế của chính
mình. Nhờ vậy, doanh số năm 2002 của Công ty Threadless
non trẻ dễ dàng vượt mức 100.000 USD. Do "làm hàng" theo
yêu cầu, Threadless không hề có vấn đề "tồn kho". |
|
"Nước lên thuyền lên", tác phẩm đoạt giải
trong các cuộc thi ở Threadless nhận được thêm tiền
thưởng. Tiền thưởng lúc đầu chỉ 100 USD, sau tăng dần
đến 2500 USD. Glenn Jones - một thành viên Threadless
từng đoạt giải năm 2004 - bộc bạch: "Tiền thưởng không
quan trọng. Điều chủ yếu là tác phẩm của mình được in
lên áo thun và mẫu áo thun đó được nhiều người yêu
thích". |
|
Threadless trở thành một mạng xã hội "thiết
kế áo thun". Mỗi thành viên có thể trưng bày các mẫu áo
và giải thích ý tưởng của mình, có thể bình luận thiết
kế của thành viên khác. Bất kỳ ai viếng thăm Threadless
đều có thể cho điểm các mẫu áo, từ 1 đến 5, không cần
phải là thành viên. Một cách tự nhiên, bên dưới mỗi mẫu
áo luôn có mục "Mua áo này". |
|
Mỗi lần bày ra mẫu áo mới, thành viên
Threadless luôn tìm cách quảng bá tác phẩm của mình bằng
mọi cách khả dĩ, tận dụng mọi mối quen biết ở các mạng
xã hội khác nhau để mời mọc người xem mẫu áo mới tại
Threadless với mong muốn được chấm điểm tốt. Nhờ vậy, dù
không hề quảng cáo, Threadless dần dần được nhiều người
biết đến qua đường "truyền khẩu". |
|
Để thu hút người mua, Threadless thực hiện
biện pháp quen thuộc: một hệ thống điểm thưởng dành cho
"khách hàng thân thiết". Khách hàng mua áo và gửi cho
Threadless ảnh chụp của mình với áo mới sẽ được nhận
điểm thưởng tương đương 1,5 USD (trở thành khoản giảm
giá cho lần mua sau). |
|
Threadless ngày càng phát triển, Nickell
cần thêm nhiều nhân viên. Trừ bộ phận kế toán, mọi nhân
viên của Threadless đều là thành viên quen thuộc của
Threadless.com từ trước. |
|
Nickell luôn "dạo quanh" Threadless.com
nhiều lần mỗi ngày để giữ mối liên lạc gần gũi với mọi
thành viên. Kalmikoff nhận xét: "Nếu một người dùng
Facebook mong muốn một điều gì đó, họ hầu như chẳng có
cơ hội tiếp xúc với Mark Zuckerberg. Ở Threadless thì
khác. Nếu ai đó không thích điều gì ở Threadless, họ có
thể nói chuyện với Jake rất dễ dàng". |
|
 |
|

Trình diễn thời trang áo thun ở Threadless.com
(hình ảnh do người dùng gửi đến) |
|
Trong năm 2005, Nickell nhận được lời mời
hợp tác từ hai tập đoàn may mặc lớn, Urban Outfitters và
Target. Nếu Nickell đồng ý, áo thun Threadless sẽ được
bày bán trong hàng trăm cửa hàng lớn của mỗi tập đoàn
trên khắp nước Mỹ. Nickell yêu cầu phải có gian hàng
riêng cho Threadless trong đó, mỗi áo thun đều có thông
tin chi tiết về người thiết kế và ý nghĩa của thiết kế.
Gian hàng phải có máy tính để người mua chấm điểm mẫu áo
ở Threadless.com. Cả Urban và Target đều từ chối vì điều
đó... chưa có tiền lệ. Dự định hợp tác không thành nhưng
Nickell không hề tiếc rẻ vì anh hiểu rõ con đường của
mình. |
|
Karim Lakhani - giáo sư Trường Kinh doanh
Harvard - gọi Threadless là một trường hợp thú vị, xóa
nhòa ranh giới giữa người sản xuất và người tiêu thụ..
"Khách hàng nhận vai trò quan trọng trong mọi khâu: đề
xuất ý tưởng, tiếp thị, quảng bá, dự báo. Mọi hoạt động
chủ yếu của công ty đều trở nên phân tán". |
|
Từ trường hợp của Threadless, Tim O'Reilly
- người đặt ra thuật ngữ "Web 2.0" - dự báo: "Khi công
nghệ sản xuất tiến bộ hơn, mô hình này sẽ được áp dụng
rộng rãi hơn". O'Reilly hình dung: khi các loại máy công
cụ được điều khiển bởi máy tính trở nên phổ biến, những
"sản phẩm của cộng đồng" có thể xuất hiện trong nhiều
lĩnh vực thiết kế, chế tạo. Khái niệm "nguồn mở" (open
source) có thể áp dụng cho các lĩnh vực thời trang, điện
tử, đồ gia dụng, đồ chơi,... |
|
Không hề quan tâm đến khái niệm "nguồn mở",
"Web 2.0" hoặc "sáng tạo cộng đồng" (crowdsource),
Nickell đi theo con đường hợp quy luật một cách tự
nhiên, tuy rằng... "chưa có tiền lệ". |
|
AN NHIÊN |
|
[Đầu trang] |