|
Từ Copyright đến copyleft |
|

RICHARD MATTHEW STALLMAN |
|
Có ý kiến cho rằng thông qua vấn đề sở hữu trí tuệ,
đặc biệt là bản quyền phần mềm máy tính, các nước
giàu đang trói buộc, ngăn chặn con đường làm chủ
công nghệ của các nước nghèo. Nói gì thì nói, việc
xâm phạm bản quyền phần mềm máy tính là điều không
thể biện minh. Những nước nghèo không thể chờ đợi sự
“rủ lòng thương” của những nước giàu và chỉ có một
con đường duy nhất để phát triển nền tảng công nghệ
thông tin: dựa vào những phần mềm tự do (free
software). |
|
Năm 2001, UNESCO chính thức ủng hộ tổ chức Phần mềm
Tự do (Free Software Foundation - FSF), một tổ chức
phi lợi nhuận do Richard Stallman thành lập (năm
1983), nhằm sáng tạo và phổ biến phần mềm tự do. Năm
1991, Linus Torvalds đã viết phần nhân (kernel) của
hệ điều hành Linux bằng những công cụ của FSF và
những người tình nguyện của FSF đã góp phần quan
trọng tạo dựng nên “thế giới Linux” ngày nay. |
|

BIỂU TƯỢNG COPYLEFT (CHỮ C NGƯỢC - BÊN TRÁI - KHÔNG CÓ TÍNH PHÁP
LÝ) VÀ BIỂU TƯỢNG COPYRIGHT (CHỮ C- BÊN PHẢI). |
|
Giấy phép GPL |
|
Theo cách hiểu thông thường, phần mềm tự do là phần
mềm được đăng ký bản quyền bằng giấy phép GPL (GNU
General Public License) với nội dung do Stallman đề
xuất. Giấy phép GPL đảm bảo cho người sở hữu bản sao
của phần mềm có đầy đủ quyền tự do như chính tác
giả: |
|
- Tự do sử dụng và nghiên cứu mã nguồn.
- Tự do sao chép và chia sẻ mã nguồn với người khác.
- Tự do cải tiến mã nguồn.
- Tự do phân phối mã nguồn cải tiến. |
|
Giấy phép GPL còn “ràng buộc” người sở hữu bản sao
phần mềm: chỉ được phép phân phối phần mềm với giấy
phép GPL. Nghĩa là mọi phần mềm dẫn xuất từ phần mềm
tự do cũng là phần mềm tự do, giấy phép GPL không
thể bị hủy bỏ sau khi cải tiến phần mềm. |
|
Dù theo đúng khuôn khổ của luật bản quyền
(copyright) thông dụng, giấy phép GPL thể hiện bản
chất trái ngược với khái niệm bình thường về sở hữu
trí tuệ. Stallman gọi đó là copyleft. Không chỉ áp
dụng cho phần mềm máy tính, bản quyền copyleft ngày
nay còn được dùng cho các loại tài liệu, các sáng
tác âm nhạc và mỹ thuật. |
|
Mục tiêu là tự do |
|
Để thực hiện bản quyền copyleft, dĩ nhiên phần mềm
phải được cung cấp kèm theo mã nguồn. Tuy vậy,
Stallman không muốn dùng từ “nguồn mở” (open source)
và luôn muốn tách biệt cuộc vận động phần mềm tự do
của FSF với phong trào phần mềm nguồn mở, tuy rằng
hầu hết phần mềm nguồn mở cũng được phân phối với
giấy phép GPL. Theo Stallman, những người khởi xướng
phong trào nguồn mở lấy việc hoàn thiện phần mềm làm
mục tiêu, trong khi FSF xem quyền tự do là tối
thượng, là lý tưởng xã hội để hướng đến. Stallman
cũng đề nghị không gọi mập mờ “phần mềm nguồn đóng”
(closed source software) mà gọi đúng bản chất của nó
là “phần mềm tư hữu” (proprietary software). |
|
Kể về chí hướng của mình, Stallman bộc bạch: “Năm
1971, tôi làm việc ở phòng thí nghiệm Trí tuệ Nhân
tạo của Đại học MIT. Tất cả chúng tôi khi đó đều
tham gia vào việc phát triển hệ điều hành máy tính.
Chúng tôi tự nhận mình là hacker. Chúng tôi cảm thấy
vui thích với việc phát triển phần mềm máy tính và
đó là đặc điểm của hacker. Nguyên tắc ứng xử của
hacker là kiến thức phải được chia sẻ cho những
người cần đến nó, còn hơn là để lãng phí (...). |
|
Hệ thống copyleft đạt được hai điều. Trước hết, nó
bảo đảm cho mọi người dùng phần mềm có được quyền tự
do. Thứ hai, nó khuyến khích người ta cải tiến phần
mềm để đền đáp cho cả cộng đồng. Những người cải
tiến phần mềm tự do thường làm việc cho các trường
đại học hoặc công ty và ở cả hai nơi đó người ta đều
quan tâm đến những mối lợi tài chính. Người cải tiến
phần mềm tự do có thể muốn chia sẻ với cộng đồng
nhưng ông chủ của họ sẽ không đồng ý nếu thấy có thể
thu lợi từ những cải tiến đó. Copyleft bảo đảm cho
điều này không xảy ra (...)”. |
|
Lớn lên từ một cộng đồng mà quyền tự do chia sẻ kiến
thức là một nguyên tắc, Stallman - một hacker “cổ
điển” - lắm khi có thái độ cực đoan đối với phần mềm
tư hữu và quyền sở hữu trí tuệ. Gần như một... Đông
Ki Sốt trong thời đại số, nhưng Stallman có lúc phải
thừa nhận lo lắng của mình về sự sụp đổ của lý tưởng
phần mềm tự do. Trên thực tế, ở những nơi mà quyền
sở hữu trí tuệ không được xem trọng, việc “cải tiến”
phần mềm tự do trở thành “của riêng” để bán chác
cũng chẳng hiếm. Khi copyright không còn thì
copyleft cũng mất ý nghĩa. |
|
NGỌC THẠCH |
|
[Đầu trang] |