|
Lập bảng danh mục hàng
hóa |
|
“Em định làm gì với Access vậy, Vân?”. Vân lúng
túng: “Dạ, không có gì. À, mà có... Anh Thành ơi, em
định làm một chương trình giúp cô Hải quản lý khách
hàng của tiệm tạp hóa. Anh biết không, tiệm của cô
Hải trong xóm có nhiều khách quen lắm. Khách quen
đến mua thường lấy thứ này, thứ kia rồi xin nợ, sau
đó trả góp nay một ít, mai một ít tùy theo thu nhập
của họ trong từng ngày. Em thấy cô Hải ghi sổ chi
chít, vất vả quá hà! Em nghĩ phải có cách nào đó
hiệu quả hơn...”. |
|
Anh Thành nheo mắt: “Em gái của anh tính làm phần
mềm doanh nghiệp cơ đấy! Ý em muốn nói là cần đưa
những ghi chép của cô Hải vào máy để mỗi khi khách
quen mua hàng thì máy sẽ tính toán, biết được ngay
họ còn nợ nhiều hay ít, phải không?”. Vân vui mừng:
“Đúng đó, anh. Em còn muốn cho khách hàng thấy họ đã
trả góp bao nhiêu tiền, vào những ngày nào. Em đã
quan sát ở tiệm cô Hải và thấy họ... hay quên lắm!”.
Anh Thành trầm ngâm: “Xem nào... phải có một bảng
liệt kê hàng hóa và đơn giá này, một bảng lưu thông
tin khách hàng như họ tên, địa chỉ chẳng hạn. Có lẽ
phải thêm hai bảng nữa để ghi chép những lần mua
hàng và trả nợ”. |
|
 |
|
Vân hăng hái bắt tay vào việc. Cô bé chọn
File > New > Blank database,
gõ
TapHoa
rồi gõ Enter để đặt tên cho cơ sở dữ liệu (CSDL)
mới. Trên cửa sổ CSDL vừa hiện ra, Vân bấm-kép vào
Create table in Design view,
bắt đầu thiết kế bảng danh mục hàng hóa. |
|
“Phải nhận diện hàng hóa bằng mã số. Em dùng số thứ
tự làm mã số cũng được”. Trên cửa sổ
Table 1: Table,
ở dòng đầu của cột
Field Name, Vân ghi tên cột là
MaSo. Gõ phím Tab để chuyển qua cột
Data Type
kế bên, Vân bấm vào dấu mũi tên chỉ xuống
, chọn
kiểu dữ liệu
AutoNumber
(kiểu “đánh số tự động”). “Mã số hàng là
chìa khóa chính (primary key), anh Thành há?”.
“Dĩ nhiên rồi, Vân. Như vậy mới bảo đảm không có
chuyện hai mã số trùng nhau trong bảng này”. Vân
bấm-phải vào dòng
MaSo,
chọn
Primary Key.
“À, trong ô
Caption
ở bên dưới đó, em ghi là
Mã Số
cho rõ ràng. Nếu không, sau này khi làm việc với
bảng, mình thấy tên cột đầu tiên là
MaSo,
đọc lên nghe giống... ma xó quá!”. Vân cột lại đuôi
tóc: “Em hết sợ ma rồi. Anh Thành đừng hòng dọa được
em nha”. |
|
Ở dòng tiếp theo, Vân ghi tên cột là
TenHang
(tên hàng), chọn kiểu dữ liệu là
Text
(chữ), ghi rõ
Tên Hàng
ở ô
Caption.
Qua dòng thứ ba, Vân ghi tên cột là
DonGia
(đơn giá), chọn kiểu dữ liệu là
Currency
(tiền), cũng ghi rõ
Đơn Giá
ở ô
Caption.
“Trong ô
Decimal Places
ở trên ô
Caption,
em chọn
0
đi Vân. Nếu không, theo mặc định, dạng thức số tiền
sẽ có phần thập phân không cần thiết”. |
|
 |
|
Vân bấm Save
, gõ tên bảng là
HangHoa, gõ Enter và đóng cửa sổ thiết kế
HangHoa: Table.
Trong cửa sổ CSDL xuất hiện tên bảng mới:
HangHoa. |
|
“Em có biết cô Hải có bao nhiêu mặt hàng không?”.
“Có, anh. Em có ghi vào sổ tay đây. Hay là em nhập
liệu vào bảng hàng hóa luôn, anh há?”. “Tùy em. Có
dữ liệu ngay để thử nghiệm cũng tốt”. Vân bấm-kép
vào tên bảng
HangHoa.
Trong cửa sổ
HangHoa: Table,
bảng hàng hóa còn trống rỗng. Vân bấm vào dòng đầu ở
cột ghi tên hàng, gõ
Nước mắm Phú Quốc (chai 1l),
gõ phím Tab để qua cột ghi đơn giá, gõ
9000
và gõ Enter. Access tự động gán mã số
1
cho mặt hàng đầu tiên. Trên dòng thứ hai, Vân gõ
phím Tab để vào cột tên hàng, ghi mặt hàng tiếp
theo. |
|
Anh Thành vỗ nhẹ vào vai Vân: “Anh phải đi làm đây.
Khi nhập liệu vào bảng, thỉnh thoảng nhớ bấm
Save nha Vân. Sau bảng danh mục hàng hóa, anh em mình sẽ thảo luận về
các bảng tiếp theo”. |
|
HOÀNG NGỌC GIAO |
|
[Đầu trang] |
|