SỐ 159
 
ĐỌC XONG VỌC LIỀN

Cơm thêm: 7 chiêu tối ưu hóa Windows XP

Thiệt ra thì mấy chiêu này hỗng có mới, hỗng có nhằm nhò gì với các vọc sĩ. Chúng tôi chỉ tập trung lại, hệ thống lại chúng dành cho các bạn mới làm quen với máy tính. Chúng sẽ làm cho hệ thống Windows XP của bạn chạy khá hơn là mặc định. Lần này, chúng tôi không đề cập tới các chiêu tối ưu hóa Windows XP bằng cách chỉnh sửa Windows Registry.
CHIÊU SỐ 1: ĐỊNH THỜI GIAN BOOT MÁY
Do Windows XP hỗ trợ việc sử dụng hai hệ điều hành trên một máy tính, khi boot máy, một menu xuất hiện cho bạn chọn hệ điều hành mà mình muốn vào làm việc. Thời gian mặc định để hiển thị menu boot này là 30 giây. Nếu quá thời gian đó mà chưa có hệ điều hành nào được chọn, trình startup sẽ tự động đưa bạn vào hệ điều hành mặc định.
Bạn có thể điều chỉnh thời gian hiển thị menu này theo ý mình.
Bạn vào Control Panel, click chọn mở mục System. Trên bảng hộp thoại System Properties, bạn mở thẻ Advanced.
Ở phần Startup and Recovery (Khởi động và Phục hồi), bạn nhấn nút Settings. Hộp thoại Startup and Recovery xuất hiện.
Ở phần System startup, mục Default operating system (hệ điều hành mặc định), bạn có thể nhấn chuột lên nút mũi tên để mở list ra chọn hệ điều hành mà mình muốn xác lập là mặc định.
Để xác định thời gian hiển thị danh sách hệ điều hành khi boot, bạn dùng trỏ chuột click mũi tên lên (tăng) hay xuống (giảm) ở mục Time to display list of operating system. Mặc định là 30 giây. Có thể chỉnh từng giây cho tới 0.

Nếu muốn biên tập file boot.ini (nằm ở partition gốc, tức ổ C:), bạn click lên nút Edit để mở cửa sổ Notepad
Sau khi chỉnh sửa xong, nhớ nhấp chuột lên menu File của cửa sổ Notepad, chọn Save để lưu lại.
CHIÊU SỐ 2: TĂNG GIẢM KÍCH THƯỚC BỘ NHỚ ẢO VÀ TỐI ƯU HÓA VIÊC SỬ DỤNG BỘ NHỚ
Khi hoạt động, Windows XP cũng cần có một dung lượng bộ nhớ ảo (virtual memory, VM) để chứa các data tạm cho phiên làm việc. Sở dĩ gọi là bộ nhớ ảo là vì Windows XP sẽ chiếm dụng một mảng trên ổ đĩa cứng mà “tưởng tượng” nó là RAM. Nó sẽ tự nhiên xác lập một dung lượng VM mặc định, chỉ ít trăm MB thôi, làm file “pagefile.sys” (tương tự như file hoán đổi win386.swp của Windows 98/ ME). Kinh nghiệm cho thấy, kích thước VM càng lớn, càng rộng rãi thì Windows XP càng chạy ngọt ngào, phơi phới sức Xuân hơn. Bởi vậy, trong điều kiện ổ cứng bây giờ cái nào cái nấy bự chảng, bạn có thể mở rộng dung lượng VM cho Windows XP thỏa chí tung hoành.
Bạn vào Control Panel, mở mục System. Trên bảng hộp thoại System Properties, bạn mở thẻ Advanced.
Click lên nút Settings trong phần Performance.
Trên bảng hộp thoại Performance Options, bạn nhấn nút Change ở phần Virtual memory để chỉnh kích thước file pagefile.sys. Con số trong mục “Total paging file size for all drives” là tổng kích thước file pagefile cho tất cả các (ổ cứng) mà Windows XP mặc định dùng làm bộ nhớ ảo cho hệ thống của bạn.

Ở hộp thoại Virtual Memory, bạn chọn drive mà mình muốn đặt bộ nhớ ảo (nên chọn drive có dung lượng lớn và còn nhiều đất trống).
Đánh dấu chọn vào mục Custom size (tùy ý xác định kích thước file).
Gõ vào box của mục Maximum size dung lượng tối đa phần đất ổ cứng mà bạn muốn cấp cho Windows XP làm bộ nhớ ảo. Về kích thước của file pagefile, ở mục Maximum size (cộng chung lại, nếu bạn muốn đặt file này trên nhiều ổ đĩa), ít nhất bạn cũng nên chỉ định theo mức mà Windows khuyến cáo trong mục Total paging file size for all drives, dòng Recommended của hộp thoại Virtual Memory. Dung lượng ở mục Initial size bét nhất cũng phải bằng phân nửa dung lượng RAM mà user được quyền sử dụng khi log-in.
Nhấn nút Set.
Nhấn nút OK để thoát ra.
Ngoài ra, bạn cũng nên tối ưu hóa việc sử dụng RAM bộ nhớ vật lý của Windows XP cho hệ thống chạy nhẹ và nhanh hơn.
Bạn hiệu chỉnh điều này ở phần Memory usage (sử dụng bộ nhớ) trên tab Advanced của bảng hộp thoại Performance Options.
Theo mặc định, máy vi tính được thiết đặt để dùng một phần lớn hơn của bộ nhớ cho việc chạy các chương trình của bạn.
Bạn có hai option để chọn điều chỉnh cho Programs (các chương trình) hay System cache (bộ nhớ tạm hệ thống) hoạt động tốt nhất. Trong trường hợp máy gắn nhiều RAM, bạn nên đánh dấu chọn mục System cache cho bộ nhớ tạm của hệ thống được dư dả, giúp máy chạy tốt hơn.
CHIÊU SỐ 3: SẮP XẾP CÁC NHÓM CHƯƠNG TRÌNH TRONG START MENU
Mỗi khi được cài đặt vào máy, một phần mềm ứng dụng sẽ đặt một folder của mình trong menu Start/All Programs để cho bạn tiện truy xuất các thành phần, công cụ của nó. Nếu cài nhiều phần mềm, bảng danh sách sẽ dài thoòng và cực kỳ rối rắm. Chi bằng, bạn nên tạo những nhóm phần mềm có cùng chức năng để dễ tìm.
Trước hết, bạn phải vào Control Panel, chọn mở icon Taskbar and Start Menu hay đơn giản hơn là nhấp chuột phải lên thanh taskbar và chọn mục Properties trong menu pop-up
Trên bảng hộp thoại Taskbar and Start Menu Properties, bạn chọn thẻ Start Menu. Windows XP cung cấp cho bạn hai giao diện Start Menu.
Cái mặc định Start menu được thay hình đổi dạng theo “xì -tin” (style) của Windows XP. Cái Classic Start menu là dành cho những ai thích hoài cổ hay quá “xốn mắt” vì cái điệu đàng, màu mè hoa lá cành của “choai choai” Windows XP, nên muốn “lối cũ ta về” sử dụng lại kiểu Start Menu của Windows “Diễm xưa”.
Trong trường hợp hình thành hay sắp xếp các nhóm chương trình, cho dù là dân “môđẹc” (modern) hay dân “cờ-lác-síc” (classic), bạn cũng nên chọn kiểu Classic Start menu để dễ bề làm việc hơn. Nhấn nút Customize.
Trên bảng hộp thoại Customize Classic Start Menu, bạn nhấn nút Advanced.
Cửa sổ Start Menu xuất hiện với mặc định là phần quản lý dành cho account của người đang sử dụng Windows XP.
Bây giờ thì tùy bạn chọn nhé. Nếu chỉ muốn tạo các nhóm chương trình mới hay sắp xếp các phần mềm ứng dụng chỉ dành riêng cho account của mình, bạn nhấn lên biểu tượng Programs.
Còn nếu muốn thiết lập các nhóm hay sắp xếp các phần mềm dành cho tất cả mọi người sử dụng máy tính của mình, bạn kéo thanh trượt trên cột Folders bên trái và click chuột chọn mở mục All Users, rồi mở tiếp mục Start Menu rồi mục Programs.
Bây giờ, nếu muốn tạo nhóm chương trình mới, bạn nhấp chuột lên menu File của cửa sổ Programs và chọn mục New -> Folder
Hay bạn chỉ cần click chuột phải lên phần danh sách bên phải của cửa sổ Programs, chọn trên menu popup mục New -> Folder.
Một hộp New Folder xuất hiện trong danh sách. Bạn điền tên của nó vào.
Nếu muốn di chuyển tên phần mềm nào vào nhóm tương ứng, bạn chỉ việc dùng trỏ chuột kéo thả nó vào tên của nhóm đó.
Trong cửa sổ Programs, bạn có thể thực hiện các tác vụ quản lý file như Cut, Delete, Rename, Copy, Paste... bằng cách click chuột phải lên tên của folder hay item và chọn lệnh tương ứng trên menu pop-up.
Làm việc xong, bạn đóng cửa sổ lại, trở về bảng hộp thoại Customize Classic Start Menu, nhấn nút OK (hay đóng nó).
Quay về bảng hộp thoại Taskbar and Start Menu Properties, bạn chọn hình thức Start Menu mà mình “kết mô-đen” và nhấn nút OK để đóng nó lại.
CHIÊU SỐ 4: TẮT CHỨC NĂNG SYSTEM RESTORE
Gọi là phát huy các tinh túy của Windows ME, bác Bill Gates nhà ta cũng ban cho Windows XP cái chức năng khôi phục hệ thống (System Restore). Chỉ có khác là trong khi Windows ME tạo thêm thư mục _RESTORE trên mỗi partition của ổ cứng để lưu trữ các file backup hệ thống phục vụ cho tác vụ phục hồi khi cần, thì Windows XP lại tạo các thư mục System Volume Information có công dụng y chang. Trong quá trình làm việc, Windows XP sẽ sao lưu các thông số hệ thống và các file hệ thống vào thư mục này. Cứ tích lũy dần, bạn sẽ hao mất hàng ngàn MB chứ chẳng giỡn đâu. Các file chứa trong đó được bảo vệ chặt chẽ tới mức bạn không thể nào delete chúng được trong Windows XP. Và máy sẽ chạy với cảm giác nặng nề một cách đáng kể vì chức năng System Restore luôn giám sát mọi động tịnh của hệ thống.
Nếu không quan tâm gì tới cái chức năng phục hồi hệ thống này, bạn có thể tạm tắt nó đi cho được việc.
 
Bạn vào Control Panel, click kép để mở mục Systems.
Click vào thẻ System Restore. Trong hộp thoại System Restore, bạn đánh dấu kiểm vào mục Turn off System Restore on all drives (tắt chức năng phục hồi hệ thống ở tất cả các ổ đĩa).
Nhấn nút OK
Sau này, nếu muốn mở lại chức năng này, bạn chỉ việc bỏ dấu kiểm đi.
Còn trong trường hợp thuộc type người quá ư cẩn thận hay “nhát gan”, bạn cũng có thể chọn chỉ tắt chức năng System Restore ở một số drive/partition nào đó. Nhưng xin lưu ý, với drive chứa Windows XP đang chạy (gọi là drive hệ thống - system drive), bạn chỉ có thể chỉnh dung lượng của thư mục System Volume Information của drive đó. Còn nếu muốn tắt chức năng System Restore ở drive hệ thống này, bạn phải tắt nó ở tất cả các drive.
Để hiệu chỉnh chức năng của drive nào, bạn chọn tên drive đó trong list drive và nhấn nút Settings.
Trên bảng Drive Settings, bạn có thể đánh dấu kiểm tắt chức năng System Restore đối với ổ đĩa này, hay dùng trỏ chuột kéo thanh trượt để ấn định dung lượng đĩa cứng tối đa được dành cho chức năng System Restore.
CHIÊU SỐ 4: GỠ BỎ CHỨC NĂNG TỰ ĐỘNG AUTOPLAY
Chức năng Autoplay bắt đầu đọc các dữ liệu có trên một ổ đĩa ngay khi bạn nạp một phương tiện lưu trữ (như đĩa CD) vào ổ CDROM hay kích hoạt một ổ đĩa cứng thứ hai (đặc biệt là ổ gắn ngoài USB, Firewire IEEE1394, Flash Drive). Nhờ vậy mà file cài đặt (setup) của một chương trình hay nhạc trên đĩa AudioCD sẽ được tự động nạp và chơi ngay lập tức. Nhưng cái mà nó lợi bất cập hại, cũng hay gây rắc rối cho bạn, vì đĩa CD nào bỏ vào nó cũng đều đọc cả, vừa mất thời gian, vừa có thể gây treo máy do gặp đĩa bị lỗi.
Riêng khi có xài ổ ghi đĩa, chức năng Autoplay này được các nhà sản xuất phần mềm ghi đĩa CD khuyến cáo nên tắt để khỏi ảnh hưởng tới quá trình ghi đĩa.
Để tắt chức năng Autoplay trong Windows XP Professional (không sử dụng trong bản Home đâu à nghen), bạn gõ vào box Open của Run trong menu Start dòng lệnh gpedit.msc để mở trình biên tập Group Policy.
Nhấn OK hay Enter.
Trên cửa sổ Group Policy Editor, bạn click kép lên mục Computer Configuration ở panel bên phải.
Bạn click kép lên mục Administrative Templates
Bạn click kép tiếp lên mục System
Bạn click chuột phải tên dòng Turn off Autoplay và chọn Properties trong menu chuột phải.
Trên hộp thoại Turn off Autoplay Properties, bạn chọn mục “Enabled” rồi chọn áp dụng lệnh tắt Autoplay cho “All drives” (tất cả các ổ đĩa) hay “CD-ROM drives” (các ổ đĩa CD). Cuối cùng thì nhấn OK và thoát ra khỏi trình biên tập.
CHIÊU SỐ 5: TẮT CÁC DỊCH VỤ WINDOWS KHÔNG CẦN THIẾT
Khi bị kêu đi làm việc, Windows XP tự động nạp sẵn vô số các dịch vụ cốt để lấy điểm chủ, hễ chủ cần tới món gì là có ngay mà dọn ra. Nó không thèm biết rằng cái sự này làm hao tốn chẳng ít tài nguyên hệ thống (cụ thể là bộ nhớ RAM).
Khi vừa được cài đặt, Windows XP đã sẵn sàng cung cấp cho bạn 89 dịch vụ rồi. Trong số đó có 36 dịch vụ được nạp tự động như mặc định mỗi khi khởi động. Thật ra thì chỉ có 5 dịch vụ là cần thiết để chạy Windows XP. Đây là các dịch vụ không thể tắt (disabled) được vì có thể gây rắc rối nếu như có chương trình nào cần tới chúng. Bạn nên thiết đặt chúng ở dạng Startup Type là “Manual” để có thể chạy chúng nếu cần mà không phải tự động nạp vào máy khi khởi động Windows. Bạn có thể tham khảo thêm chức năng của các dịch vụ Windows XP bằng cách click chuột vào đây.
Vì thế, MSconfig là một nơi lý tưởng cho bạn giải phóng một số lượng đáng kể bộ nhớ RAM. Bạn có thể tắt nhiều tác vụ, trong đó có các dịch vụ không cần thiết để Windows XP không tự động nạp chúng mỗi khi khởi động.
Bạn vào Control Panel, click kép mở mục Administrative Tools rồi chọn trên cửa sổ mới mở mục Services.
Từ cửa sổ Services, bạn click chuột phải lên tên dịch vụ mà mình muốn hiệu chỉnh, chọn Properties trong menu chuột phải.
Trên hộp thoại Properties, bạn chọn dạng Startup type là “Manual” hay “Disabled” và nhấn nút Stop. Xin lưu ý, chỉ có tác vụ nào biết chắc là không cần phải nạp tự động, bạn mới chọn dạng “Diasbled”, còn thường và có nghi ngờ thì nên chọn “Manual” để khi có ứng dụng nào cần tới nó, bạn có thể đáp ứng được.
Cuối cùng, nhấn nút OK.
Sau này, nếu muốn mở lại dịch vụ này, bạn chỉ việc làm lại như trên rồi chọn lại Startup Type là “Automatic” và “Start”.
CHIÊU SỐ 6: GỠ BỎ CÔNG CỤ WINDOWS MESSENGER
Theo mặc định, công cụ Windows Messenger được cài đặt sẵn trong Windows XP và tự động được nạp lên mỗi khi khởi động Windows XP.
Windows Messenger có chức năng giúp bạn liên hệ với những người mà mình quen biết khi họ cùng đang có mặt trên Internet (on-line). Nó giúp bạn tìm kiếm xem người nào đó hiện nay có đang on-line hay không.
Đối với những người chẳng quan tâm chi tới cái công cụ này, đây là một cái sự ngứa mắt ghê lắm. Hễ mở Windows là nó nhảy phóc ra và nằm chễm chệ ở khay công cụ hệ thống. Ngoài ra, nó còn chiếm mất một mớ tài nguyên hệ thống của bạn.
Tạm đình chỉ công tác Windows Messenger:
Nếu quả thật là cũng có lúc xài tới Windows Messenger, nhưng lại không muốn nó cứ tự động nạp cùng lúc với Windows, bạn có thể cho nó tạm đình chỉ công tác. Bạn click chuột phải lên biểu tượng của nó trong khay đồng hồ và chọn lệnh Open (hay đơn giản là click kép lên biểu tượng này).
Trên màn hình Windows Messenger, bạn nhấp chuột lên menu Tools và chọn Options. Trên bộ hộp thoại Options, chọn thẻ Preferences.
Bỏ dấu kiểm trước mục “Run this program when Windows starts” (chạy chương trình này khi bắt đầu Windows. Nhấn nút OK.
Bây giờ thì Windows Messenger sẽ chỉ xuất hiện khi bạn mở Outlook Express mà thôi. Để đỡ rách việc, làm chậm việc mở Outlook Express, bạn mở Outlook Express ra, click chuột lên menu Tools và chọn Options.
Trong hộp thoại Options, bạn mở thẻ General và bỏ dấu kiểm trước mục “Automatically log on to Windows Messenger” (tự động đăng nhập vào Windows Messenger).
Gỡ bỏ Windows Messenger:
Nếu thật sự chẳng cần tới Windows Messenger nữa, bạn có thể gỡ bỏ nó. Đây là một thành phần được Windows XP (bản gốc) che giấu hơi bị kỹ nên không xuất đầu lộ diện ở cửa sổ Add/Remove Programs.
Ở bản Windows XP nguyên thủy, để gỡ bỏ Windows Messenger, bạn dùng một trình biên tập Text (dùng NotePad với option Files of Type là All Files hoặc có thể là phím F4 của NC95 hay Windows Commander), mở file SYSOC.INF trong thư mục WINDOWS\INF. Còn ở bản Windows XP Service Pack 1, bạn phải gỡ bỏ thêm Windows Messenger có sẵn trong cửa sổ Add/Remove Programs.
Ở dòng msmsgs=msgrocm.dll, OcEntry, msmsgs.inf, hide, 7
bạn bỏ chữ hide (giấu) đi thành msmsgs=msgrocm.dll, OcEntry, msmsgs.inf, 7
Save file này lại.
Bây giờ bạn có thể vào Control Panel để mở chức năng Add/Remove Programs lên. Chọn công cụ Add/Remove Windows Components.
Cửa sổ Windows Components Wizard xuất hiện.
Bạn bỏ dấu kiểm trước mục Windows Messenger và nhấn nút Next để Windows bắt đầu gỡ bỏ chương trình này.
Ở Windows XP SP1, do có tới hai mục Windows Messenger, bạn nhớ bỏ dấu kiểm ở mục Networking Services thì mới khử được cả hai Windows Messenger. Xong, nhớ đánh dấu kiểm lại cho Networking Services.
Sau này, nếu cần xài tới Windows Messenger, bạn chỉ việc dùng lại công cụ Add/Remove Windows Components, đánh dấu kiểm vào dòng Windows Messenger rồi nhấn nút Next cho nó cài đặt chương trình này vào máy bạn. Khỏe re.
CHIÊU SỐ 7: BỔ SUNG THIẾT BỊ MỚI MÀ KHÔNG CẦN PHẢI KHỞI ĐỘNG LẠI MÁY
Mỗi khi khởi động hệ thống, Windows XP chỉ nạp driver của các thiết bị phần cứng đang sẵn sàng hoạt động (được kết nối và có cấp điện).
Vì thế, mỗi khi đang làm việc mà cần sử dụng một thiết bị nào mà mình có thói quen tắt điện, chỉ mở khi cần xài (như máy in, modem gắn ngoài...), nếu thiết bị kém hỗ trợ Plug-and-Play, bạn buộc phải khởi động lại máy cho Windows XP nhận diện và load các driver thiết bị tương ứng.
Để khỏi tốn thời gian khởi động máy mỗi khi có thiết bị phần cứng mới được gọi lên sử dụng, bạn chỉ việc vào Control Panel, chọn mở mục System.
Trên bảng hộp thoại System Properties, bạn chọn thẻ Hardware rồi nhấn lên nút Device Manager.
Bạn dùng chuột tô chọn vào tên người đang sử dụng máy tính trong cửa sổ Device Manager.
Sau đó click lên menu Action và chọn trên menu pop-up lệnh Scan for h a r d w a r e c h a n g e s (Quét tìm các thay đổi phần cứng).
Sau khi Windows nhá màn hình 1 - 2 cái để scan hệ thống, bạn có thể kiểm tra lại xem thiết bị phần cứng mà mình muốn làm việc đã được gọi lên chưa.

PHẠM HỒNG PHƯỚC

[Đầu trang]
Trang chủ
Nội lực "Peter Pan"
Cầu nối Intel Việt Nam
Chuyện trong tuần
Cõi người ta
Bình luận thị trường
Cõi Mô-bai
Chuyên đề
Bổ ngửa
Túi càn khôn IT
Hồ lô biến
Cảm về Game
Nhật ký e-CHÍP
Bản quyền Công ty Phần mềm & Truyền thông VASC
 99 Triệu Việt Vương HN; Tel: (04) 9782235 • email: echip@vasc.com.vn
Mọi chi tiết về kinh doanh và quảng cáo xin liên hệ Phòng Quảng cáo. Tel: (04) 9782077 kd@vasc.com.vn