|
HỒ SƠ ICT |
|
"Doanh
nghiệp gián điệp" của CIA |
|
Cuộc Chiến tranh Lạnh kết thúc không có nghĩa là
không còn đất dụng võ cho nghề gián điệp. Trái lại,
nghề này lại có điều kiện trở thành những doanh
nghiệp hợp pháp với lợi nhuận không nhỏ từ nguồn tài
trợ của các tổ chức tình báo quốc tế. Tháng 9-1999,
Cục Tình báo Trung ương (CIA) của Mỹ đã thành lập
một doanh nghiệp riêng mang tên In-Q-It. Chỉ bằng
mấy lời vắn tắt, George Tenet – giám đốc CIA thời đó
– tuyên bố đã đến lúc những người lính nên thay bộ
áo trấn thủ bằng bộ veston và thay khẩu súng bằng
chiếc máy tính xách tay. Những vấn đề quân sự và
quốc phòng vẫn là mối quan tâm truyền thống của nghề
tình báo, nhưng mục tiêu mới của CIA chính là tình
báo kinh tế. |
In-Q-It
là một “doanh nghiệp không kinh doanh” trực thuộc
CIA, đặt văn phòng tại Thung lũng Silicon, và được
thành lập để lót đường cho cơ quan tình báo khét
tiếng này thâm nhập vào mặt trái của thế giới công
nghệ cao. Những quan hệ bí mật giữa ngành tình báo
và công nghệ cao vốn đã có từ trước, nhưng Tenet đã
chọn phương án hiện diện công khai ngay tại “thánh
địa điện tử”. Tenet lo ngại rằng: Nếu không có tiền
đầu tư của CIA bày sẵn trên bàn thì các thiên tài kỹ
thuật sẽ quá bận rộn tạo ra những sản phẩm thương
mại, chứ không bỏ thời gian và công sức sáng chế
những ứng dụng mới cho nghề gián điệp. |
|
Tập đoàn đầu tư In-Q-It của CIA ra đời từ mối lo
ngại đó. Ngay cả cái tên gọi của doanh nghiệp này
cũng đã có vẻ... gián điệp. “In” là chữ tắt
của Intelligence (tình báo), “It” là chữ tắt của
Information Technology (công nghệ thông tin) và “Q”
chính là biệt danh của một nhân vật trong bộ phim
gián điệp James Bond 007 chuyên chế tạo những món
“đồ nghề gián điệp” cho nhân vật điệp viên 007. |
|
Mục tiêu của “doanh nghiệp không kinh doanh” In-Q-It
là tài trợ vốn cho các công ty CNTT và công nghệ cao
mới ra đời, và quan trọng hơn, truyền bá quan điểm
rằng có một thị trường đầy
hứa hẹn cho việc nghiên cứu phát triển các công nghệ
gián điệp. In-Q-It được đặt dưới quyền điều hành của
Gilman Louie – ông này đồng thời cũng là người sáng
lập ra Microprose (một công ty chuyên thiết kế trò
chơi điện tử). Louie cho biết: “Nhu cầu của các
doanh nghiệp CNTT và CIA đang nhanh chóng hội tụ với
nhau. Khi cả hai phía đều đang cố tìm giải pháp cho
những vấn đề tương tự như nhau thì In-Q-It sẽ là cầu
nối hiệu quả nhất cho hai phía.” |
|
Louie chỉ đúng một phần.
Vài năm trước, các nhân viên CIA và các doanh nhân
có thể đã cùng gặp phải những vấn đề như nhau, nhưng
giờ đây hai phía đã không còn đi chung một con
đường. Trong lãnh vực quản lý thông tin, các doanh
nghiệp CNTT đã bứt phá rất xa, bỏ mặc sau lưng các
nhân viên CIA hụt hơi và hoang mang không
biết xoay xở về đâu. Những công nghệ phân loại dữ
liệu đã từng là độc quyền của CIA và từng được tán
dương hết lời, giờ đây chẳng có ý nghĩa gì so với
sức mạnh mà ngành CNTT đã tung ra thị trường. Thêm
vào đó là nguồn dữ liệu từ các cơ quan cung cấp
thông tin và hàng ngàn chuyên san kỹ thuật. Kết quả
là ta sẽ có một lượng dữ kiện khổng lồ mà không có
chuyên viên phân tích tình báo nào có thể tổng hợp
nổi. |
|
Thách thức đối với “cộng đồng tình báo” không phải
là việc thu thập thông tin. Các hãng thông tấn ngày
nay như CNN thu thập tin còn siêu đẳng hơn cả nhân
vật James Bond 007 trong phim truyện. Chính việc
“đánh hơi” thông tin mới là điều khiến CIA bận tâm
giải quyết. Với đà phát triển của Internet và lượng
thông tin tự do tràn ngập, thử thách ấy càng đặt CIA
vào thế tiến thoái lưỡng nan nghiêm trọng: Hoặc là
CIA tiếp tục ẩn mình trong tháp ngà bí mật của họ
hoặc là liều lĩnh tham gia sân chơi của doanh nghiệp
tư nhân – nơi cạnh tranh khốc liệt hơn, nhưng chất
lượng của khả năng tình báo có thể sử dụng lại thuộc
hàng tối ưu. Sự ra đời của In-Q-It không những đã
cho biết nhiều điều về thực trạng của CIA mà thậm
chí còn cho thấy thực trạng của khu vực doanh nghiệp
tư nhân: Tự thân khu vực doanh nghiệp tư nhân đã là
một mạng lưới tình báo! |
|
Ngay từ lúc ra đời, In-Q-It đã hoạt động theo một
kiểu mẫu doanh nghiệp khá sáng tạo: doanh nghiệp tài
trợ. Đây là một phương thức hoạt động tổng hợp giữa
các lãnh vực nghiên cứu-phát triển, tiếp thị-đối
ngoại và đầu tư trực tiếp. Cốt lõi của mọi hoạt động
tại In-Q-It là những hồ sơ công khai đánh giá những
nhược điểm của thị trường trong những ngành công
nghệ chuyên biệt. In-Q-It sẽ dùng các hồ sơ này để
thuyết phục các công ty hay tập đoàn công nghệ cao
đầu tư vào những lãnh vực mà cả thị trường lẫn CIA
đều có thể hưởng lợi. |
|
Chris Tucker, một chuyên gia phân tích ở In-Q-It,
cho biết mũi nhọn đầu tư và tài trợ của In-Q-It là
các phần mềm truy tìm, sàng lọc dữ liệu và bảo mật
thông tin. Ngoài ra, các quan chức của In-Q-It đều
kín miệng về mọi hoạt động khác của công ty bề ngoài
có vẻ công khai này. Nhưng nếu để ý thấy rằng 5
người trong Ban giám đốc trực tiếp điều hành In-Q-It
đều xuất thân từ 5 tập đoàn công nghệ cao thuộc
nhiều lãnh vực khác nhau - từ tin học, viễn thông
cho tới sản xuất động cơ tên lửa - thì người ta biết
chắc mục tiêu của In-Q-It không chỉ đơn giản như
thế. |
|
Giấc mơ của CIA hiện nay là chế tạo được một bộ máy
hay phần mềm “siêu đẳng” có thể tìm kiếm chớp nhoáng
bất kỳ thông tin nào, phân loại và dịch mọi dữ liệu
sang bất kỳ thứ tiếng nào, tự động nhận dạng những
tập tin thu tiếng nói để ghi thành văn bản, và tự
động lập danh mục mọi hình ảnh thu thập được từ mọi
nguồn khác nhau. Những tập đoàn phần mềm lớn như
Microsoft cũng đã quan tâm đến ý tưởng này và không
dễ dàng gì cho CIA khi chen chân vào một thị trường
đầy dẫy những “ông không lồ” công nghệ như
Microsoft. |
|
Nhưng mục tiêu của CIA khi đứng đằng sau dự án
In-Q-It lại không giống mục tiêu đầu tư của Bộ Quốc
phòng Mỹ trước đây. Suốt thời kỳ Chiến tranh Việt
Nam, biết bao tiền của từ Bộ Quốc phòng Mỹ đã đổ vào
các công nghệ xác định tọa độ và các bộ máy giải mã
thông tin; và cũng nhờ đó mà tạo nền tảng cho những
vi mạch silicon ngày nay. Cuối những năm 60 của thế
kỷ 20, cũng từ tiền đầu tư của Bộ Quốc phòng Mỹ mà
mạng ARPARET – tiền thân của Internet ngày nay – đã
ra đời. Nhưng hiện nay, thị trường công nghệ cao đã
sẵn sàng cung cấp những giải pháp mà CIA cần và đã
phát triển được những công nghệ mà CIA khả dụng. |
|
Năm 1997, một Công ty Mỹ tên là Image Data bắt đầu
xây dựng một cơ sở dữ liệu ảnh chụp của mọi công dân
Mỹ. Image Data mua dữ liệu trọn gói từ các sở cung
cấp bằng lái xe ở các tiểu bang trên khắp nước Mỹ.
Nó định tung cơ sở dữ liệu này ra thị trường qua
mạng Internet như một thứ “vũ khí trực tuyến” để
chống lại nạn giả mạo chi phiếu. Đối tượng khách
hàng mà Image Data nhắm tới sẽ sử dụng cơ sở dữ liệu
này chính là hệ thống hàng triệu siêu thị trên khắp
nước Mỹ. Nhưng hóa ra các cơ quan mật vụ Mỹ cũng
quan tâm đến dữ liệu này. Những hồ sơ mật của CIA
mới công bố gần đây cho thấy CIA và Image Data đã có
nhiều cuộc gặp gỡ thường xuyên. |
|
Một trường hợp khác cho thấy thị trường công nghệ
cao hiện nay đã đi trước nhu cầu của ngành gián
điệp: hợp đồng “đi đêm” giữa Cục An ninh Quốc gia Mỹ
(NSA) và Crypto AG – một công ty của Thụy Sĩ chuyên
về mã hóa. Cho tới những năm gần đây, Cryto AG hầu
như độc quyền cung cấp các bộ máy mã hóa cho hơn 120
nước. Các quan chức từ Iran, Iraq cho tới Vatican
đều trông cậy vào công nghệ của Crypto AG để mã hóa
những công văn tối mật của họ. Nhưng khi đó không ai
biết rằng, NSA đã hợp đồng với Crypto AG để công ty
này cung cấp cho NSA một công nghệ khác dễ dàng giải
mã mọi thông điệp đã mã hóa từ thiết bị của Crypto
AG! Và NSA lại có hợp đồng riêng với hãng Motorola
để chế tạo cho họ những máy giải mã riêng theo công
nghệ mà Crypro AG đã cung cấp. |
|
Các hình thức tổ hợp công nghiệpquân sự của thời
Chiến tranh Lạnh ngày nay đã chuyển hóa thành các
hình thức tổ hợp tình báo-CNTT. Bản thân sự ra đời
của những “doanh nghiệp gián điệp” kiểu như In-Q-It
đã cho ta thấy nhiều phát minh trong tương lai sẽ
liên quan đến việc theo dõi, dù đó là các phương
pháp mới để truy tìm dữ liệu hay dọ thám con người. |
|
ĐĂNG THƯ |
|
|