 |
|
Cõi người ta |
|
Tôi và chúng ta
Cha đẻ của máy photocopy
ĐĂNG KHOA |
|
Ngày
nay, chiếc máy photocopy đã trở nên quá đỗi quen
thuộc với mọi người. Nó được sử dụng để tạo ra các
bản sao giống hệt bản gốc. Máy photocopy giúp cho
công việc giấy tờ tại các văn phòng trở nên đơn
giản, giảm chi phí và tiết kiệm thời gian. Nhưng ít
ai biết được rằng người phát minh ra nó – ông
Chester Carlson – đã phải mất 21 năm để biến ý tưởng
về máy photocopy trở thành hiện thực. |
|
Chester Carlson có một tuổi thơ không mấy êm đềm.
Cha của cậu bị bại liệt vì chứng viêm khớp. Mẹ của
cậu – bà Ellen Carlson - phải làm việc vất vả để
nuôi cả gia đình cho đến khi bà mất vì căn bệnh lao
lúc Carlson 17 tuổi. Ngay từ nhỏ, Carlson đã có ước
muốn làm được một điều gì đó lớn lao. Cậu ghi chép
tất cả những gì mình thấy vào một cuốn sổ tay. Năm
12 tuổi, Carlson nói với ông anh họ tên là Roy rằng:
“Một ngày nào đó, em sẽ thực hiện một phát minh vĩ
đại”. |
|
Thuở nhỏ, nếu không có người bác là hiệu trưởng một
trường trung học thuyết phục thì có lẽ Chester
Carlson đã bỏ học. Lên đại học, Chester Carlson vào
học ngành Vật lý tại Viện Công nghệ California (Mỹ).
Ra trường, sau khi viết tới 82 đơn xin việc gửi đi
khắp mọi nơi, Carlson được nhận vào làm việc tại
phòng thí nghiệm của hãng Bell với mức lương 35
USD/tuần. Một thời gian sau đó,ông phải nghỉ việc ở
nhà vì chính sách cắt giảm nhân công của Bell. |
|
Một năm sau, Carlson tìm được công việc ở công ty
P.R Mallory, có trụ sở tại New York. Công việc của
Carlson là sao chép các bằng sáng chế gửi qua công
ty. Các bản sao đều phải chép tay hoặc viết qua giấy
than bẩn lem nhem. Quá chán ngán vì công việc buồn
tẻ lặp đi lặp lại này, Carlson chợt nghĩ đến một
loại máy có khả năng sao chụp. Ông bắt đầu tiến hành
các thí nghiệm. Mặc dù các thí nghiệm đòi hỏi sự đầu
tư về thời gian và tiền bạc, trong khi Carlson không
phải là một người giàu có, nhưng ông vẫn quyết tâm
thực hiện. Carlson dành ra 10 USD/tháng để mua các
thiết bị thí nghiệm, và tận dụng tối đa thời gian
rảnh rỗi có thể, kể cả ngày chủ nhật và các buổi
đêm, cho việc nghiên cứu. Lúc đó, ông sống trong một
căn hộ nhỏ chỉ có một phòng duy nhất ở Astoria,
thành phố Queens New York. Ông đặt các thiết bị thí
nghiệm ngay trong căn phòng của mình. Một hôm, khi
vào thư viện đọc sách, ông chợt nhìn thấy cuốn “Tĩnh
điện học”. Cuốn sách này đã mở ra một hướng đi mới
cho các thí nghiệm của Carlson. |
|
Tuy nhiên, mọi việc không phải lúc nào cũng “thuận
buồm xuôi gió”. Đồng lương kiếm được không bao
nhiêu, theo yêu cầu công việc, Carlson phải tham gia
một khóa học buổi tối ở trường Luật New York để có
thể trở thành luật sư. Điều này làm giảm thời gian
nghiên cứu của ông. Rồi ông lại mắc bệnh viêm khớp
như người cha. Mặc dầu vậy, Carlson vẫn tiếp tục
tiến hành các thí nghiệm theo hướng tĩnh điện. Ông
chuyển các vật dụng thí nghiệm vào bếp, tiến hành
thí nghiệm với lưu huỳnh ngay trên bếp lò, bên cạnh
là đồ ăn uống. Những người hàng xóm coi ông là một
nhà khoa học lập dị, và họ luôn cảm thấy khó chịu
với ông. |
|
Một hôm, Carlson gặp phải sự cố khi thí nghiệm, một
số vật dụng trong bếp bị thổi bay. Sau đó, có một
phụ nữ trẻ tên là Dorris đến gõ cửa nhà ông. Cô
Dorris muốn bày tỏ với Carlson những suy nghĩ của
mình về các thí nghiệm “kỳ cục” của ông. Ít lâu sau
họ ... lấy nhau. |
|
Sau nhiều tháng sống cùng Carlson, bà Dorris cảm
thấy mệt mỏi vì không thể sử dụng được phòng bếp -
đã từ lâu trở thành phòng thí nghiệm của Carlson.
Trong khi đó thì Carlson cũng nhận thấy mình không
phải là một kỹ thuật viên. Để giải quyết vấn đề này,
Carlson đã chuyển “phòng thí nghiệm” của mình ra
đằng sau phòng khách nhà mẹ nuôi, và thuê một kỹ
thuật viên người Đức tên là Otto Kornei. Tiếp tục bỏ
ra 10 USD mỗi tháng cho các cuộc thí nghiệm, Carlson
và Kornei nhận thấy một số vật liệu có thể thay đổi
thuộc tính nhiễm điện khi đem ra soi trước ánh sáng,
điều này có thể áp dụng đối với các vật liệu nhạy
ảnh để tạo ra một bức ảnh trên giấy. Hai nhà nghiên
cứu kiên trì tìm cách tạo ra một bản sao theo kỹ
thuật tĩnh điện. |
|
Ngày
22-10-1938, tại phòng thí nghiệm Astoria của mình,
Carlson và Kornei dùng chiếc khăn mùi xoa chà xát
lên một bản kẽm để tạo ra các điện tích dương. Sau
đó họ đặt một tấm kính hiển vi lên phía trên tấm
kẽm. Trên tấm kính hiển vi có in dòng chữ “10-22-38
Astoria” bằng loại mực của Ấn Độ. Bước tiếp theo,
Carlson ghép bản kẽm và tấm kính lại với nhau, rồi
đưa ra soi dưới ánh sáng của một bóng đèn trong vài
giây. Sau đó, Carlson tách bản kẽm ra khỏi tấm kính,
rồi rắc một ít bột màu vàng lên trên bản kẽm. Khi
Carlson thổi nhẹ cho lớp bột dư bay đi, ông nhìn
thấy dòng chữ “10-22-38 Astoria” hiện trên bản kẽm.
Run lên vì sung sướng, Carlson đặt một miếng giấy
nến lên bản kẽm, hơ qua lửa để bột dính vào giấy
nến. Khi bóc miếng giấy nến ra, bản sao tĩnh điện
đầu tiên đã được thực hiện. |
|
“Tôi và Kornei đã thử đi thử lại vài lần để đảm bảo
là chúng tôi đã thành công. Sau đó chúng ta đã cùng
nhau ăn trưa và mừng thắng lợi”. |
|
Thí
nghiệm đã thành công. Vấn đề bây giờ là phải biến nó
thành một chiếc máy cụ thể. Những năm sau đó,
Carlson đã mang phát minh của mình đến “tiếp thị”
cho hơn 20 hãng công nghệ, trong đó có IBM, General
Electric, nhưng đều nhận được sự thờ ơ. Người cộng
sự của ông – kỹ sư Otto Kornei - cũng cảm thấy chán
ngán và đã bỏ ông để đến làm việc cho hãng IBM. Vợ
ông – bà Dorris – cũng không thể chịu đựng nổi cuộc
sống kham khổ đã quyết định ly dị ông. Nhiều chuyện
buồn đến cùng một lúc khiến Carlson cảm thấy suy
sụp. Tuy nhiên, ông vẫn hy vọng rằng một ngày nào đó
sẽ có một công ty để ý đến phát minh của ông. |
|
Vào năm 1944, Viện Khoa học Battelle bắt đầu quan
tâm đến phát minh của Carlson. Viện này đồng ý chi
3.000 USD để phát triển tiếp phát minh của Carlson.
Đổi lại, Carlson sẽ nhận được 3/4 tiền bản quyền nếu
phát minh đó thành hình. Đến năm 1947, một công ty
tên là Haloid đã giành được quyền sử dụng công nghệ
sao chụp của Carlson. Giám đốc của công ty Haloid –
ông Joe Wilson – không thích cái tên “sao chụp ảnh
điện” (Electrophotography) mà Carlson đã đặt cho
công nghệ của mình nên đã đổi nó thành “Sao in”
(Xerography), sau đó đổi tiếp tên công ty thành
Xerox. Nhưng rồi cũng phải mất tới 13 năm cùng với
sự tiến bộ của công nghệ ống mực, thấu kính, linh
kiện, đến tháng 3-1960, Xerox mới cho ra mắt chiếc
máy photocopy đầu tiên trên thế giới, ký hiệu Xerox
914. |
|
Carlson bỗng chốc trở thành triệu phú khi được trả
tiền bản quyền 150 triệu USD. Có tiền trong tay
nhưng Carlson không trở thành một kẻ “ăn chơi trác
táng”. Ông đã dành 100 triệu USD cho chương trình từ
thiện. Ông cũng dành tặng một khoản tiền cho cựu
cộng sự Otto Kornei. Tuy nhiên, bệnh viêm khớp diễn
biến trầm trọng khiến sức khỏe của Carlson ngày một
tồi tệ hơn. Cha đẻ của máy photocopy mất ngày
19-9-1968. |
|
|
|
 |
|
 |