SỐ 144
Cõi người ta

Tôi và chúng ta
Cha đẻ của máy photocopy
ĐĂNG KHOA

Ngày nay, chiếc máy photocopy đã trở nên quá đỗi quen thuộc với mọi người. Nó được sử dụng để tạo ra các bản sao giống hệt bản gốc. Máy photocopy giúp cho công việc giấy tờ tại các văn phòng trở nên đơn giản, giảm chi phí và tiết kiệm thời gian. Nhưng ít ai biết được rằng người phát minh ra nó – ông Chester Carlson – đã phải mất 21 năm để biến ý tưởng về máy photocopy trở thành hiện thực.

Chester Carlson có một tuổi thơ không mấy êm đềm. Cha của cậu bị bại liệt vì chứng viêm khớp. Mẹ của cậu – bà Ellen Carlson - phải làm việc vất vả để nuôi cả gia đình cho đến khi bà mất vì căn bệnh lao lúc Carlson 17 tuổi. Ngay từ nhỏ, Carlson đã có ước muốn làm được một điều gì đó lớn lao. Cậu ghi chép tất cả những gì mình thấy vào một cuốn sổ tay. Năm 12 tuổi, Carlson nói với ông anh họ tên là Roy rằng: “Một ngày nào đó, em sẽ thực hiện một phát minh vĩ đại”.

Thuở nhỏ, nếu không có người bác là hiệu trưởng một trường trung học thuyết phục thì có lẽ Chester Carlson đã bỏ học. Lên đại học, Chester Carlson vào học ngành Vật lý tại Viện Công nghệ California (Mỹ). Ra trường, sau khi viết tới 82 đơn xin việc gửi đi khắp mọi nơi, Carlson được nhận vào làm việc tại phòng thí nghiệm của hãng Bell với mức lương 35 USD/tuần. Một thời gian sau đó,ông phải nghỉ việc ở nhà vì chính sách cắt giảm nhân công của Bell.

Một năm sau, Carlson tìm được công việc ở công ty P.R Mallory, có trụ sở tại New York. Công việc của Carlson là sao chép các bằng sáng chế gửi qua công ty. Các bản sao đều phải chép tay hoặc viết qua giấy than bẩn lem nhem. Quá chán ngán vì công việc buồn tẻ lặp đi lặp lại này, Carlson chợt nghĩ đến một loại máy có khả năng sao chụp. Ông bắt đầu tiến hành các thí nghiệm. Mặc dù các thí nghiệm đòi hỏi sự đầu tư về thời gian và tiền bạc, trong khi Carlson không phải là một người giàu có, nhưng ông vẫn quyết tâm thực hiện. Carlson dành ra 10 USD/tháng để mua các thiết bị thí nghiệm, và tận dụng tối đa thời gian rảnh rỗi có thể, kể cả ngày chủ nhật và các buổi đêm, cho việc nghiên cứu. Lúc đó, ông sống trong một căn hộ nhỏ chỉ có một phòng duy nhất ở Astoria, thành phố Queens New York. Ông đặt các thiết bị thí nghiệm ngay trong căn phòng của mình. Một hôm, khi vào thư viện đọc sách, ông chợt nhìn thấy cuốn “Tĩnh điện học”. Cuốn sách này đã mở ra một hướng đi mới cho các thí nghiệm của Carlson.

Tuy nhiên, mọi việc không phải lúc nào cũng “thuận buồm xuôi gió”. Đồng lương kiếm được không bao nhiêu, theo yêu cầu công việc, Carlson phải tham gia một khóa học buổi tối ở trường Luật New York để có thể trở thành luật sư. Điều này làm giảm thời gian nghiên cứu của ông. Rồi ông lại mắc bệnh viêm khớp như người cha. Mặc dầu vậy, Carlson vẫn tiếp tục tiến hành các thí nghiệm theo hướng tĩnh điện. Ông chuyển các vật dụng thí nghiệm vào bếp, tiến hành thí nghiệm với lưu huỳnh ngay trên bếp lò, bên cạnh là đồ ăn uống. Những người hàng xóm coi ông là một nhà khoa học lập dị, và họ luôn cảm thấy khó chịu với ông.

Một hôm, Carlson gặp phải sự cố khi thí nghiệm, một số vật dụng trong bếp bị thổi bay. Sau đó, có một phụ nữ trẻ tên là Dorris đến gõ cửa nhà ông. Cô Dorris muốn bày tỏ với Carlson những suy nghĩ của mình về các thí nghiệm “kỳ cục” của ông. Ít lâu sau họ ... lấy nhau.

Sau nhiều tháng sống cùng Carlson, bà Dorris cảm thấy mệt mỏi vì không thể sử dụng được phòng bếp - đã từ lâu trở thành phòng thí nghiệm của Carlson. Trong khi đó thì Carlson cũng nhận thấy mình không phải là một kỹ thuật viên. Để giải quyết vấn đề này, Carlson đã chuyển “phòng thí nghiệm” của mình ra đằng sau phòng khách nhà mẹ nuôi, và thuê một kỹ thuật viên người Đức tên là Otto Kornei. Tiếp tục bỏ ra 10 USD mỗi tháng cho các cuộc thí nghiệm, Carlson và Kornei nhận thấy một số vật liệu có thể thay đổi thuộc tính nhiễm điện khi đem ra soi trước ánh sáng, điều này có thể áp dụng đối với các vật liệu nhạy ảnh để tạo ra một bức ảnh trên giấy. Hai nhà nghiên cứu kiên trì tìm cách tạo ra một bản sao theo kỹ thuật tĩnh điện.

Ngày 22-10-1938, tại phòng thí nghiệm Astoria của mình, Carlson và Kornei dùng chiếc khăn mùi xoa chà xát lên một bản kẽm để tạo ra các điện tích dương. Sau đó họ đặt một tấm kính hiển vi lên phía trên tấm kẽm. Trên tấm kính hiển vi có in dòng chữ “10-22-38 Astoria” bằng loại mực của Ấn Độ. Bước tiếp theo, Carlson ghép bản kẽm và tấm kính lại với nhau, rồi đưa ra soi dưới ánh sáng của một bóng đèn trong vài giây. Sau đó, Carlson tách bản kẽm ra khỏi tấm kính, rồi rắc một ít bột màu vàng lên trên bản kẽm. Khi Carlson thổi nhẹ cho lớp bột dư bay đi, ông nhìn thấy dòng chữ “10-22-38 Astoria” hiện trên bản kẽm. Run lên vì sung sướng, Carlson đặt một miếng giấy nến lên bản kẽm, hơ qua lửa để bột dính vào giấy nến. Khi bóc miếng giấy nến ra, bản sao tĩnh điện đầu tiên đã được thực hiện.

“Tôi và Kornei đã thử đi thử lại vài lần để đảm bảo là chúng tôi đã thành công. Sau đó chúng ta đã cùng nhau ăn trưa và mừng thắng lợi”.

Thí nghiệm đã thành công. Vấn đề bây giờ là phải biến nó thành một chiếc máy cụ thể. Những năm sau đó, Carlson đã mang phát minh của mình đến “tiếp thị” cho hơn 20 hãng công nghệ, trong đó có IBM, General Electric, nhưng đều nhận được sự thờ ơ. Người cộng sự của ông – kỹ sư Otto Kornei - cũng cảm thấy chán ngán và đã bỏ ông để đến làm việc cho hãng IBM. Vợ ông – bà Dorris – cũng không thể chịu đựng nổi cuộc sống kham khổ đã quyết định ly dị ông. Nhiều chuyện buồn đến cùng một lúc khiến Carlson cảm thấy suy sụp. Tuy nhiên, ông vẫn hy vọng rằng một ngày nào đó sẽ có một công ty để ý đến phát minh của ông.

Vào năm 1944, Viện Khoa học Battelle bắt đầu quan tâm đến phát minh của Carlson. Viện này đồng ý chi 3.000 USD để phát triển tiếp phát minh của Carlson. Đổi lại, Carlson sẽ nhận được 3/4 tiền bản quyền nếu phát minh đó thành hình. Đến năm 1947, một công ty tên là Haloid đã giành được quyền sử dụng công nghệ sao chụp của Carlson. Giám đốc của công ty Haloid – ông Joe Wilson – không thích cái tên “sao chụp ảnh điện” (Electrophotography) mà Carlson đã đặt cho công nghệ của mình nên đã đổi nó thành “Sao in” (Xerography), sau đó đổi tiếp tên công ty thành Xerox. Nhưng rồi cũng phải mất tới 13 năm cùng với sự tiến bộ của công nghệ ống mực, thấu kính, linh kiện, đến tháng 3-1960, Xerox mới cho ra mắt chiếc máy photocopy đầu tiên trên thế giới, ký hiệu Xerox 914.

Carlson bỗng chốc trở thành triệu phú khi được trả tiền bản quyền 150 triệu USD. Có tiền trong tay nhưng Carlson không trở thành một kẻ “ăn chơi trác táng”. Ông đã dành 100 triệu USD cho chương trình từ thiện. Ông cũng dành tặng một khoản tiền cho cựu cộng sự Otto Kornei. Tuy nhiên, bệnh viêm khớp diễn biến trầm trọng khiến sức khỏe của Carlson ngày một tồi tệ hơn. Cha đẻ của máy photocopy mất ngày 19-9-1968.

[Đầu trang]
Trang chủ
Nội lực "Peter Pan"
Cầu nối Intel Việt Nam
Chuyện trong tuần
Cõi người ta
Bình luận thị trường
Cõi Mô-bai
Chuyên đề
Bổ ngửa
Túi càn khôn IT
Hồ lô biến
Cảm về Game
Nhật ký e-CHÍP
Bản quyền Công ty Phần mềm & Truyền thông VASC
 99 Triệu Việt Vương HN; Tel: (04) 9782235 • email: echip@vasc.com.vn
Mọi chi tiết về kinh doanh và quảng cáo xin liên hệ Phòng Quảng cáo. Tel: (04) 9782077 kd@vasc.com.vn