 |
|
Bình loạn thị
trường |
|
ISO và chất lượng
phần mềm
YaLy |
|
Theo một vài thống kê, tại Việt Nam hiện có khoảng
600 doanh nghiệp phần mềm (DNPM) và một số không nhỏ
các doanh nghiệp đăng ký sản xuất - kinh doanh phần
mềm (đến cuối 2002, Hà Nội có 613 và TP.HCM có 1.310
doanh nghiệp dạng này). |
|
Rõ ràng các con số đó là những dấu chỉ tích cực. Tuy
nhiên có một thực tế khác không thể không quan tâm
là tốc độ tăng trưởng, năng suất cũng như chất lượng
sản phẩm của ngành công nghiệp phần mềm vẫn thấp,
không tương xứng với số lượng doanh nghiệp có hoạt
động liên quan đến phần mềm. Thị trường nội địa tuy
nhỏ song các DNPM chỉ mới chiếm khoảng 40% thị phần.
Tại sao ? Có nhiều lý do nhưng ở đây chỉ đề cập đến
chất lượng các sản phẩm phần mềm. |
|
Thật ra, số sản phẩm phần mềm của một số DNPM Việt
Nam có giá trị cao, được nhiều người dùng chọn sử
dụng theo cả hai hướng: bỏ tiền mua quyền sử dụng
lẫn sao chép lậu không phải là ít. Thậm chí còn có
một số sản phẩm phần mềm xuất khẩu được thị trường
nước ngoài vốn rất khó tính chấp nhận. |
|
Tuy nhiên, bên cạnh đó, vẫn còn rất nhiều sản phẩm
phần mềm của Việt Nam bị người dùng phàn nàn vì
những lý do như: Chỉ chạy được trên WinXP, không
chạy được trên Win98 hoặc ngược lại. Cấu hình máy
thấp nên phần mềm không thể vận hành được... |
|
Người ta đã thử phân tích nguyên nhân. Trong đó có
một số nguyên nhân đã được xác định là lý do chính:
Các DNPM còn thiếu hiểu biết và kinh nghiệm trong
việc xây dựng, triển khai các dự án CNTT. Sản xuất
chưa theo qui trình công nghiệp. Công nghệ làm phần
mềm chưa hiện đại. Thiếu cả chuyên gia phân tích
thiết kế hệ thống, cán bộ quản lý dự án lẫn những
lập trình viên chuyên nghiệp. Việc đánh giá và kiểm
tra chất lượng phần mềm chưa được các DNPM quan tâm.
Cũng vì vậy, số DNPM đạt chứng chỉ ISO trong sản
xuất và cung cấp phần mềm còn khiêm tốn. |
|
Thế nhưng hình như đang có sự ngộ nhận về tính chất
của chứng chỉ ISO, đánh đồng chứng chỉ ISO với chất
lượng phần mềm. Chứng chỉ ISO chỉ xác định hệ thống
quản lý chất lượng (HTQLCL) của tổ chức nào đó đảm
bảo một số tiêu chuẩn nhất định, do đó có thể cung
cấp sản phẩm ổn định, đáp ứng các yêu cầu của khách
hàng. Cũng vì vậy, yêu cầu chung khi áp dụng ISO cho
tất cả các tổ chức là: Phải xây dựng, lập văn bản,
thực hiện, duy trì HTQLCL và thường xuyên nâng cao
hiệu lực của hệ thống theo các yêu cầu của hệ chuẩn. |
|
Những nỗ lực để đạt chứng chỉ ISO rõ ràng là rất cần
thiết đối với DNPM (có thể kiểm soát, theo dõi quá
trình sản xuất, qua đó nâng cao chất lượng sản phẩm
phần mềm thoả mãn các yêu cầu của khách hàng). Song
việc xây dựng và duy trì các tiêu chẩn về ISO không
phải là điều đơn giản đối với các DNPM. Khối lượng
các văn bản, qui trình thiết lập – ghi chép – lưu
trữ có thể sẽ là một gánh nặng đối với những DNPM có
qui mô nhỏ, chưa chuyên nghiệp và thiếu người quản
lý hiểu biết thấu đáo về ISO. Chưa kể những đặc thù
của lĩnh vực sản xuất phần mềm còn đòi hỏi DNPM phải
rất năng động. Việc phải thiết lập hệ thống các tài
liệu khác nhau có thể sẽ trở thành “rào cản” quá
trình phát triển. Sự trợ giúp của tổ chức tư vấn về
xây dựng ISO chỉ có giá trị nhất định bởi có thể là
chínhb họ cũng không thể hiểu hết về quá trình sản
xuất, phát triển sản phẩm phần mềm của DNPM. |
|
Nên hay không nên áp dụng ISO vào sản xuất phần mềm?
Câu trả lời vẫn là “nên” nhưng điều đó phụ thuộc vào
“hoàn cảnh” của mỗi DNPM. Không nên xem ISO là mốt,
đồng nghĩa với con dấu về tiêu chuẩn chất lượng. Sự
thái quá nào cũng bất cập. Nghe nói, Hiệp hội Phần
mềm Việt Nam (VINASA) dự định sẽ xúc tiến việc xây
dựng các qui định cho quá trình kiểm soát - đánh giá
chất lượng phần mềm. Hy vọng đây sẽ là một sự hỗ trợ
thật sự, giúp các DNPM giải toả băn khoăn về chất
lượng sản phẩm của chính mình lẫn người dùng. |
|
|
|
 |
|
 |