 |
|
Bình loạn thị
trường |
|
Thích đấu với Tây
Nguyễn Mỹ |
|
Tháng rồi, tại một hội thảo về CNTT, giám đốc công
ty tin học nọ hào hứng thuật lại chuyện mình tham
gia đấu thầu thực hiện một dự án vừa cung cấp máy
tính, vừa cung cấp giải pháp mạng trong việc quản lý
y tế ở ba tỉnh Thái Bình, Bình Thuận, An Giang do EU
là chủ đầu tư (nằm trong dự án phát triển hệ thống y
tế do EU viện trợ cho Việt Nam) và cuối cùng thắng
thầu, nhận một hợp đồng trị giá 500.000 USD. |
|
Cứ theo lời ông giám đốc này thì dự thầu của Tây
thích hơn đấu thầu của Ta... Đầu tiên là việc mở
thầu được thông báo công khai, khác với ta, thường
là úp úp, mở mở. Thậm chí, trong một cuộc họp tìm
giải pháp phát triển công nghiệp phần mềm, đã có
người đề nghị nên công khai thông tin gọi thầu, đặc
biệt là đối với các dự án 112, xem đó như một giải
pháp phát triển công nghiệp phần mềm. |
|
Dự thầu của Tây, hồ sơ dự thầu có sẵn trên mạng và
chỉ download về làm chứ không tốn tiền mua. Trong
khi với Ta, muốn dự thầu dự án nào đó, chẳng hạn
“Phòng thí điểm trọng điểm công nghệ mạng và đa
phương tiện”, phải bỏ 500.000 đồng mua hồ sơ. |
|
Dự thầu của Tây không cần phải “quen biết” trước,
cũng chẳng cần tính chuyện “lại quả”, nhà thầu chỉ
cần chứng minh công ty của mình được thành lập hợp
pháp, có năng lực và trong sạch (không vi phạm pháp
luật, không thiếu thuế, nợ tiền bảo hiểm xã hội,...)
là có thể đựơc chọn. Về khoản này, theo người kể thì
“Ta” thường làm khó “mình”. Tuy công ty của ông hoạt
động đàng hoàng nhưng nhờ các cơ quan pháp luật, cơ
quan thuế, cơ quan bảo hiểm xác nhận,... thì nơi nào
cũng từ chối. Lý do là: “Chẳng có quy định nào buộc
chúng tôi làm việc này”. Kẹt qúa, ông phải copy
những biên bản thanh lý hợp đồng kinh tế, quyết toán
thuế, bảng lương,... đem công chứng rồi nộp cho Văn
phòng EU tại Hà Nội. Cầu may nhưng không ngờ họ
thông cảm và chấp nhận... |
|
Sau khi thắng thầu, nếu công ty của ông phải ký quỹ
ở ngân hàng một khoản tiền tương đương 10% giá trị
hợp đồng để “đảm bảo việc thực hiện hợp đồng” thì
phía đối tác cũng tự nguyện mở một tài khoản, gửi
vào đó khoản tiền tương đương 60% giá trị hợp đồng
để ông tin họ có khả năng thanh toán. Trông người
rồi ngẫm đến Ta, không ít trường hợp tuy nhà thầu đã
hoàn tất hợp đồng nhưng không được thanh toán vì chủ
đầu tư... chưa có kinh phí. |
|
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, chủ đầu tư rất
linh động. Vì hết hàng, họ đồng ý cho công ty của
ông thay thế máy in lẽ ra phải nhập của Thái Lan
bằng loại tương tự nhưng có thêm một số tính năng từ
Trung Quốc. Đó không đơn thuần là thành ý mà sự linh
động đó giúp chất lượng của dự án tốt hơn. Theo ông
giám đốc và nhiều người nghe ông kể chuyện, nếu chủ
đầu tư là Ta, rất có thể trục trặc này sẽ thành
“chuyện” vì cách làm việc cứng nhắc, vì muốn gây
khó, cả vì... “đòi ăn”. |
|
Dự án được đề cập ngoài yếu tố nhân đạo còn nhằm trợ
giúp sự phát triển kinh tế của cả EU lẫn Việt Nam
nên nhà thầu vừa phải chọn các trang thiết bị đáp
ứng yêu cầu kỹ thuật, vừa là sản phẩm hoặc do EU
hoặc do Việt Nam sản xuất, trừ trường hợp có thiết
bị nào đó mà cả bên không hoặc chưa sản xuất được.
Người kể đã chọn trang thiết bị của Việt Nam (trừ
máy in vì thời điểm đó Việt Nam chưa sản xuất được)
và ông tự hào vì mình đã tạo ra giá trị gia tăng
cho ngành lắp ráp thiết bị điện tử-tin học-viễn
thông trong nước. Cũng từ chuyện này, người kể nêu
một thắc mắc: Tại sao ở Việt Nam lại không làm như
thế khi dùng ngân sách để tổ chức đấu thầu cung cấp
thiết bị cho các cơ quan Nhà nước? Thắc mắc đó không
có ai đứng lên giải đáp. Dưới cử toạ có nhiều người
thở dài, có người buột miệng, trong lĩnh vực CNTT,
lời kêu gọi “người Việt Nam dùng hàng Việt Nam” hình
như vẫn chỉ là khẩu hiệu... |
|
Chẳng biết có ai muốn chia sẻ thêm chuyện dự thầu
của Tây, đấu thầu của Ta và góp thêm cao kiến nào
không? |
|
|
|
 |
|
 |