 |
|
CHUYỆN TRONG
TUẦN |
|
PHẦN MỀM THƯƠNG
MẠI VÀ PHẦN MỀM NGUỒN MỞ: CHỦ ĐỘNG CHỌN HAY ĐỂ NƯỚC
TRÔI?
ĐĂNG KHOA
|
|
Một buổi thảo luận xoay quanh chủ đề “Sự lựa chọn
phần mềm (nên chọn phần mềm thương mại hay phần mềm
nguồn mở), với sự tham dự của gần 50 chuyên gia
trong lĩnh vực CNTT đại diện cho các tổ chức chính
phủ, doanh nghiệp. Tham gia thảo luận. Còn có bốn
nhà hoạch định chiến lược công nghệ đại diện cho
Microsoft khu vực châu Á - Thái Bình Dương... |
|
Phần mềm thương mại và em
song sinh: vi phạm bản quyền |
|
Phần
mềm thương mại được làm để bán thu lợi. Một phần của
lợi nhuận sẽ được trích ra để tái đầu tư, nghiên cứu
phát triển sản phẩm mới. Chính vì vậy mà giá thành
của phần mềm thương mại không thể rẻ. Và cũng chính
vì vậy mà phần mềm thương mại và nạn vi phạm bản
quyền phần mềm (kiếm lợi nhờ sao chép lậu với giá
bán theo kiểu “vui lòng khách đến, vừa lòng khách
đi) trở thành anh em song sinh, gắn bó với nhau như
bóng với hình. Sao chép lậu phần mềm xảy ra ở khắp
nơi trên thế giới, kể cả tại những quốc gia đặc biệt
quan tâm đến việc bảo vệ sở hữu trí tuệ như Mỹ. Ngay
cả những phần mềm chưa được phát hành cũng bị nạn
sao chép lậu đe dọa. Trường hợp hệ điều hành
Longhorn - phiên bản kế tiếp của hệ điều hành
Windows, tuy Microsoft dự kiến đến 2004 mới tung ra
thị trường nhưng nay đang được bày bán tại các sạp
trong khu quần thể thương mại ở Johor Bahru,
Malaysia với giá 6 ringgit (khoảng 1,58 USD) chỉ sau
khi phiên bản này được Microsoft giới thiệu tại buổi
hội thảo các nhà lập trình, tổ chức tại Los Angeles
hồi tháng 10 – là một điển hình. Vi phạm bản quyền
phần mềm trở thành phổ biến còn do nhiều yếu tố khác
như nhận thức của người tiêu dùng, thói quen dùng
phần mềm sao chép lậu, thiếu các quy định pháp luật
về bản quyền... |
|
Theo Liên minh Phần mềm thương mại (BSA), tỷ lệ vi
phạm bản quyền phần mềm của Việt Nam năm 2002 là
94%. Trong đó Microsoft là hãng có phần mềm bị sao
chép lậu nhiều nhất. |
|
Chính vì vậy, gần đây, Microsoft đang rất quan tâm
đến việc bảo vệ bản quyền phần mềm. Chính vì nhận ra
điều này nên trong quá trình gia nhập Tổ chức Thương
mại Thế giới (WTO), nhiều nhà hoạch định chính sách
của Việt Nam đã nghĩ tới phần mềm nguồn mở như cứu
cánh. |
|
Phần mềm nguồn mở: Cứu
cánh? |
|
Phần mềm nguồn mở là phần mềm được phát triển nhờ sự
hợp tác của cộng đồng và được cộng đồng người dùng
tự nguyện chia sẻ với nhau. |
|
Hiện
nay, nguồn mở phổ biến nhất trên thế giới là Linux.
Từ một nhân Linux mở, giới lập trình đã phát triển
thành nhiều phần mềm hoàn chỉnh như hệ điều hành
Linux của các hãng Red Hat, SuSE, Mandrake, Sun hay
hệ điều hành Linux Hồng Kỳ của Trung Quốc. |
|
Tại Việt Nam, từ cuối năm 1999, Chính phủ đã giao
cho Tổng công ty Điện tử Tin học Việt Nam (VEIC)
thực hiện dự án Xây dựng hệ điều hành nguồn mở với
giao diện Việt Nam. Dự án này được triển khai năm
2000 với kinh phí một tỷ đồng. Đến đầu năm 2001, Hệ
điều hành Linux Việt Nam 1.0 ra đời. Thế nhưng, sau
khi dự án được quyết toán, hệ điều hành này không
được phát triển tiếp. Trong năm 2000, một công ty
khác là CMC giới thiệu một hệ điều hành khác dựa
trên phiên bản Red Hat Linux nguồn mở. Thực ra, CMC
chỉ Việt hóa giao diện hệ điều hành của Red Hat chứ
không phải là phát triển hệ điều hành riêng dựa trên
nền Linux. Cũng vì thế, hệ điều hành này không phát
huy được tác dụng. Gần đây, một hệ điều hành có tên
là Vietkey Linux do nhóm Vietkey phát triển được
giới thiệu rộng rãi và được xem như Hệ điều hành
Linux Việt Nam. Thế nhưng khá nhiều người vẫn nghi
ngờ về tính chất thuần Việt của nó. |
|
Về phía Nhà nước, từ cuối năm 1999, Bộ Khoa học Công
nghệ Môi trường (Bộ KHCMMT) đã hỗ trợ một số công ty
phát triển hệ điều hành Linux cho máy tính để bàn
(trường hợp VEIC là một ví dụ), phát triển các
chương trình ứng dụng cho máy tính hiệu năng cao.
Năm 2000, Bộ KHCNMT tổ chức một Hội thảo quốc gia về
phần mềm nguồn mở. Đến năm 2002, hội thảo lần hai đã
diễn ra với sự tham dự của các chuyên gia CNTT trong
và ngoài nước. Tại hội thảo này, Bộ KHCNMT giới
thiệu khung kế hoạch cho chương trình mã nguồn mở
quốc gia. Tới tháng 4-2003, khung kế hoạch vừa kể
được xây dựng thành kế hoạch chi tiết. Hiện nay, kế
hoạch này đã trở thành một dự án và sẽ được trình
Chính phủ phê duyệt vào đầu tháng Giêng năm 2004. |
|
Đến đây, xin trở lại với câu hỏi đã nêu ở trên: Có
thể xem phần mềm nguồn mở như một cứu cánh? Một số
người cho rằng nếu sử dụng phần mềm nguồn mở, tính
chất “mở” và “chia sẻ” công khai của phần mềm nguồn
mở sẽ khắc phục được nạn sao chép lậu phần mềm. Thế
nhưng đây lại là một sai lầm nghiêm trọng về nhận
thức. Tổng giám đốc của Red Hat đã từng phát biểu:
“Phần mềm nguồn mở trao đổi tự do không có nghĩa là
miễn phí”. Nó chỉ miễn phí về mã nguồn chứ không
miễn phí đối với sản phẩm hoàn chỉnh. Khi đã được
phát triển thành sản phẩm phần mềm hoàn chỉnh, phần
mềm nguồn mở cũng sẽ được thương mại hóa. Trên thực
tế, một số công ty chế tạo máy tính thương hiệu Việt
Nam đã phải trả tiền bản quyền cho nhóm Vietkey để
có thể cài đặt hệ điều hành Vietkey Linux trên các
máy tính bán ra thị trường. Do giá thành của phần
mềm nguồn mở rẻ, một số người khác cho rằng việc sử
dụng các phần mềm nguồn mở sẽ giúp Nhà nước và doanh
nghiệp tiết kiệm chi phí đầu tư cho CNTT. Tuy chi
phí mua phần mềm nguồn mở rẻ hơn phần mềm thương
mại, song chưa chắc chi phí sở hữu phần mềm nguồn mở
(bao gồm: chi phí mua phần mềm ban đầu, chi phí
chuyển đổi từ ứng dụng cũ sang ứng dụng mới, chi phí
đào tạo huấn luyện người sử dụng, chi phí bảo trì hệ
thống) đã rẻ hơn phần mềm thương mại. |
|
Theo một nghiên cứu của hãng Gartner Group, tổng chi
phí của việc chuyển đổi và đào tạo cho các ứng dụng
cá nhân trên Linux tốn kém hơn so với Windows. Với
Windows XP, người sử dụng có thể giảm được 15% - 30%
tổng chi phí sở hữu so với ứng dụng Linux. Khoan bàn
đến việc công nhận hay phủ nhận kết quả do Gartner
Group đưa ra, chỉ căn cứ vào những gì đã quan sát,
cũng như lắng nghe, thì có lẽ đã đến lúc cần xem xét
cẩn thận về phần mềm nguồn mở. Chỉ khi nào tính được
tổng chi phí sở hữu của phần mềm nguồn mở, hãy kết
luận dùng phần mềm nào rẻ hơn. |
|
Chọn lựa thế nào? |
|
Các chuyên gia CNTT tham dự thảo luận đều thống nhất
rằng nên căn cứ vào mục đích sử dụng khi xem xét
việc lựa chọn Phần mềm thương mại hay Phần mềm nguồn
mở. Không nên thiên vị bất cứ loại nào. |
|
Đối với những công việc cần tự chủ, yêu cầu bảo mật
cao thì nên xem xét đến phần mềm nguồn mở. Còn đối
với những công việc cần độ ổn định và sự hỗ trợ tốt
(như các phần mềm quản lý nhân sự, quản lý công việc
kinh doanh của một doanh nghiệp) thì có lẽ sử dụng
phần mềm thương mại thích hợp hơn. |
|
Theo ông Mai Anh - Chủ tịch Hội Tin học Viễn thông
Hà Nội: Người dùng bình thường không quan tâm đó là
phần mềm nguồn mở hay phần mềm thương mại. Họ chỉ
cần những phần mềm dễ dùng, giá phải chăng. Ở cấp độ
quốc gia nên ủng hộ những phần mềm của riêng Việt
Nam. Cần đưa phần mềm nguồn mở vào nhà trường, để
thanh niên, học sinh, sinh viên làm quen với việc tự
lập trình, chứ không dựa vào các công cụ có sẵn,
nhằm tạo ra những phần mềm của riêng Việt Nam. |
|
|
|
 |
|
 |