 |
|
THẾ GIỚI CHIM
CÁNH CỤT |
|
Khái niệm về phân
vùng đĩa cứng trong Linux
TRẦN ANH VŨ
|
|
1. Lý
thuyết tổng quát |
|
- Quá trình
khởi động: khi bật công tắc (Power),
BIOS sẽ làm công việc
đầu tiên là “chạy đôn chạy đáo” kiểm tra những phần
cứng cơ bản (gồm ổ đĩa cứng, ổ đĩa mềm, bàn phím...)
đã được nối vào máy tính. Những phần cứng này sẽ lần
lượt được nạp driver (trình điều khiển – BIOS đã có
sẵn driver rồi) để có thể sử dụng được ngay khi khởi
động xong, đồng thời BIOS cũng đi tìm một đoạn
chương trình bé xíu được đặt tại phần đầu của đĩa
mềm (Boot sector), đĩa
cứng (MBR – Master Boot Record)
để “đùn đẩy trách nhiệm” khởi động tiếp. |
|
Riêng
đối với đĩa cứng, ngoài MBR còn có thêm Boot sector
nữa, Boot Sector này “tạm trú” ngay đầu của mỗi phân
vùng Primary (sẽ nói
sau) và Boot Sector của Primary đầu tiên sẽ nằm sau
MBR. Tại đây, ta không nói đến đĩa mềm vì quá
đơn giản, chỉ cần nạp xong Boot Sector là OK. Đĩa
cứng thì phức tạp hơn, MBR không nạp ngay hệ điều
hành mà còn “bận” phải xác định xem trong đĩa cứng
hiện có bao nhiêu phân vùng và phân vùng nào sẽ được
ưu tiên khởi động. Mỗi phân vùng Primary sẽ “cầm”
một cái cờ tên là Active,
trong một thời điểm khởi động chỉ có một Primary
được phất cờ thôi, và khi MBR nhận ra được “em” nào
phất thì tức khắc “tống” ngay tiến trình khởi động
sang cho Boot Sector của Primary đó làm tiếp. Lúc
này, Boot Sector mới tìm những tập tin khởi động của
hệ điều hành (nếu có) để “chuyển giao công đoạn” và
chấm dứt khởi động, phận ai người nấy lo mà. |
|
-
Số lượng phân vùng: đối
với mỗi ổ đĩa cứng, có hai loại phân vùng là:
Primary (phân vùng chính) và Extended (phân vùng mở
rộng). Primary là phân vùng có khả năng khởi động
(đã nói ở trên đó). Về mặt vật lý, ổ đĩa cứng chỉ có
thể chia làm bốn phân vùng, tức là chỉ cài được tối
đa bốn hệ điều hành trên một đĩa cứng mà thôi. Tuy
nhiên, nếu không có “ham muốn” dùng nhiều hệ điều
hành mà chỉ có “ý định” chia nhiều ổ đĩa thì có thể
dùng phân vùng Extended,
phân vùng này cho phép chia bên trong nó nhiều phân
vùng con gọi là Logical. |
|
2. Lý
thuyết của DOS/Windows |
|
Những đề cập bên dưới chỉ tập
trung vào cấu trúc Basic Disk
(tức là những gì ta thấy, hiểu và cảm nhận từ trước
đến giờ trên nền DOS/Windows), còn
Dynamic Disk của cơ chế RAID thì ... miễn
bàn. |
|
-
Tên phân vùng: Hệ điều
hành DOS/ Windows gọi phân vùng “phất” cờ Active là
C:, các ký tự tiếp theo
(D:, E:, F:...) lần lượt được gán cho các phân vùng
Logical của phân vùng Extended đầu tiên, khi hết
Extended đầu tiên sẽ chuyển qua Extended thứ hai
(nếu có), và khi hết Extended mới “ân huệ” cho các
phân vùng Primary tiếp theo, dù vị trí có nằm trước
Extended đi chăng nữa. |
|
- Ẩn phân
vùng Primary: DOS và Windows 9x không cho
phép hai phân vùng Primary “chường mặt” ra đồng
thời, tuy nhiên nếu cố “ép” thì vẫn được. Vì thế,
nếu đã đặt Active cho một Primary thì các Primary
khác sẽ tự động ... “mất tích”. |
|
3. Lý
thuyết của Linux |
|
-
Tên phân vùng: Hạt nhân
Linux/ Unix xây dựng cơ chế truy xuất tất cả các
loại đĩa và thiết bị đều ở dạng tập tin. “Chú chim
cánh cụt” đặt tên cho bé ổ đĩa mềm là
fd (floppy disk), ổ đĩa
mềm thứ nhất là fd0, ổ
đĩa mềm thứ hai là fd1
(hết rồi, chỉ có tối đa hai ổ đĩa mềm thôi). Tiếp
đến là ổ đĩa cứng, nếu là ổ đĩa IDE thì có tên
hd (hard disk), còn nếu là ổ đĩa SCSI thì có
tên là sd (SCSI disk).
Bây giờ bàn về ổ đĩa cứng IDE thôi nhé (ổ SCSI cũng
tương tự). Ổ đĩa cứng vật lý thứ nhất “làm khai
sinh” với tên hda, thứ
hai là hdb, thứ ba là
hdc, nếu còn nữa thì
tiếp tục. Trên từng ổ đĩa cứng, mỗi phân vùng cũng
có tên riêng, điển hình là bốn phân vùng “sếp”
(Primary và Extended) chiếm lấy các tên từ
hda0 đến
hda4 (hdgìgì
không nhất thiết chỉ có a đâu nhé, phải linh
hoạt chứ, chỉ là ví dụ thôi). Các số từ 5 trở lên
(như hda5,
hda6...) được đặt cho
các phân vùng Logical bên trong phân vùng Extended.
Điều này khác với DOS/ Windows, vì trên DOS/Windows
thì Extended không có tên, nhưng trên Linux thì
Extended có tên hẳn hoi. Dù bạn không chia đủ 4 phân
vùng “sếp” thì các “bé” Logical cũng vẫn đi từ 5 trở
lên, không “bàn cãi trả giá” gì hết. |
|
- Phân vùng
tráo đổi SWAP: Nếu Windows sử dụng tập tin
tráo đổi SWAP để lưu
tạm bộ nhớ thì Linux dùng ngay cả một phân vùng SWAP
hẳn hoi để làm việc này (quá sang!), phân vùng SWAP
phải nằm trên Extended tức là Logical í, và phải có
kích thước gấp hai lần kích thước bộ nhớ RAM hiện có
trên máy. Tuy vậy, đối với những máy có dung lượng
bộ nhớ RAM từ 32MB trở lên thì Linux khuyến khích
đặt kích thước phân vùng SWAP bằng với dung lượng
RAM. Dù thế, bạn vẫn được toàn quyền đặt kích thước
phân vùng SWAP mà. |
|
- Giải phân
mảnh (Defragment): Khi dùng Windows, bạn phải
thường xuyên làm công việc “dồn đĩa” giải phân mảnh
để tăng tốc hệ thống. Thế nhưng ở Linux, ta không
cần vì kiểu phân vùng EXT2
(hoặc EXT3) đã có đoạn
chương trình tự động chống phân mảnh trong khi làm
việc. Đây là một đặc tính rất hay của Linux, nhưng
bạn phải trả cho Linux với giá
10% dung lượng phân vùng. Thật ra, đây là cái
giá không cao, và bạn hưởng được tính ổn định và
hiệu năng tối ưu. |
|
|
|
 |
|
 |