|
HỒ LÔ BIẾN |
|
DÀNH CHO U16: LÀM
QUEN VỚI C# VÀ .NET
THÊM CHÚT MẮM, DẶM CHÚT MUỐI
Anh SI SÁP |
|
Mấy lần trước, anh em mình đã tạo ra và cho chạy thử
một biểu mẫu đơn giản. Hôm nay anh hướng dẫn em
“thêm chút mắm, dặm chút muối” để tìm hiểu một số
thuộc tính (properties) của biểu mẫu và của từng
điều khiển. |
|
Em hãy khởi động VS .NET và mở lại dự án mà ta đã
tạo ra trong lần trước (xin xem lại e-CHÍP 31) để
tiếp tục khám phá (trên thẻ
Projects trong trang
Getting Started, em bấm chọn dự án
ChaoEChipNET). Em bấm
vào biểu mẫu của ta, nhấn phím F4 để xem lại các
thuộc tính của biểu mẫu và thay đổi như sau: |
|
StartPosition: CenterScreen
MaximumSize: 400, 400
MinimumSize: 200, 200
AutoScroll: True
Font: Tahoma, 14pt |
|
Thiết đặt thuộc tính như trên sẽ thể hiện rõ ràng
vào lúc chạy. Quả thật, nhấn phím F5 để chạy ứng
dụng, em thấy biểu mẫu xuất hiện ở giữa màn hình do
thuộc tính StartPosition.
Nhờ có quy định MaximumSize
và MinimumSize, nếu
thay đổi kích thước biểu mẫu, em nhận thấy nó chỉ
tăng hay giảm đến một mức nào đó thôi. Trong chế độ
AutoScroll (khi thuộc
tính AutoScroll có trị
là True), nếu em giảm
kích thước biểu mẫu đến lúc điều khiển nào đó bị che
khuất, hai thanh cuốn (scrollbar) dọc và ngang tự
động xuất hiện (hình 1). |

HÌNH 1: BIỂU MẪU TRONG CHẾ ĐỘ AUTOSCROLL |
|
- À há! Em công nhận là... anh nói đúng! Cứ y như...
ông thầy vậy á! Híc! Thì anh cũng đang tập làm thầy
đây mà. Em có thể bấm nút X ở góc phải trên của biểu
mẫu để đóng nó lại và quay trở về môi trường thiết
kế của VS .NET. |
|
Để hiểu ý nghĩa của những thuộc tính khác, em hãy
thử thay đổi các thuộc tính của biểu mẫu và các điều
khiển theo đề nghị ở bảng 1. |
|
Sau khi đổi tên của biểu mẫu từ
Form1 thành frmMain
và đổi tên nút bấm Button1
thành ClickMe, em cần
điều chỉnh một chút trong phần mã lệnh. Bấm chọn
biểu mẫu, bấm nút phải con chuột rồi chọn
View Code, em tìm hàm
Main() và điều chỉnh
như sau: |
|
static void Main()
{
Application.Run(new
frmMain());
} |
|
Lại nhấn phím F5 để chạy ứng dụng, em sẽ nhận thấy
một số điều rất thú vị xảy ra với biểu mẫu của ta: |
|
- Nó gần như trong suốt. Thuộc tính
Opacity có thể lấy trị
nào đó từ 0% đến 100%, nhờ vậy ta có thể làm cho
biểu mẫu trở nên trong suốt ít nhiều tùy ý. |
|
- Do thuộc tính Dock
của Label1 có trị là
bottom, em thấy nó được
“dán” vào cuối biểu mẫu. Nói chung, mọi điều khiển
đều có thể được “neo đậu” theo cách như vậy. |
|
- Việc thiết lập thuộc tính
Anchor của điều khiển làm cho nó tự động thay
đổi kích thước theo biểu mẫu. |
|
- Khi các điều khiển luôn thay đổi kích thước theo
biểu mẫu, thanh cuốn (scrollbar) trở nên không cần
thiết. Chính vì vậy mà em không còn thấy thanh cuốn
dọc và ngang nữa. |
|
- Thông qua thuộc tính Cursor
của điều khiển, em dễ dàng tùy biến diện mạo của con
trỏ chuột khi người dùng đưa con trỏ chuột lướt
ngang qua điều khiển đó. |
|
- Gõ câu gì đó trong Textbox1,
em thấy nó tự động chuyển thành chữ in hoa
(uppercase) và các từ xuất hiện từ phải sang trái.
Đó là nhờ ta thiết đặt các thuộc tính
CharacterCasing và
TextAlign. |
|
- Thuộc tính TopMost có
trị là True làm cho
biểu mẫu của ta nằm bên trên tất cả các cửa sổ ứng
dụng khác đang mở. |
|
- Tuyệt dzời! Lập trình gì mà ngộ quá, anh há! Làm
được nhiều “chiện” mà hổng cần viết câu lệnh nào
hết. |

BẢNG 1. TRỊ THỬ NGHIÊM CHO CÁC THUỘC TÍNH CỦA
BIỂU MẪU FORM1 VÀ CÁC ĐIỀU KHIỂN |
|
Nói cho đúng thì biểu mẫu của ta chưa có ứng dụng gì
thật sự. Dù sao, việc thiết đặt thuộc tính đối với
các điều khiển trên biểu mẫu giúp em biết nhiều điều
thú vị về biểu mẫu Windows (Windows form). Phần bên
dưới của cửa sổ Properties
có sẵn lời giải thích ý nghĩa từng thuộc tính, rất
tiện cho ta. |
|
Anh muốn nói thêm chuyện này nữa: em có thể chọn
nhiều điều khiển cùng lúc bằng tổ hợp Ctrl+click
(nhấn giữ phím Ctrl trong khi bấm chuột). Sau khi
chọn nhiều điều khiển, em dễ dàng thiết đặt đồng
thời các thuộc tính cho tất cả các điều khiển được
chọn. Em cũng có thể dùng tổ hợp Shift+click để chọn
nhiều điều khiển, giống như cách chọn một lượt nhiều
tập tin trong Windows Explorer vậy đó. |
|
|