 |
|
CHUYỆN TRONG
TUẦN |
|
NHÌN TỪ HỘI THẢO
QUỐC GIA LẦN THỨ NHẤT VỀ CNTT: Cần điều chỉnh để
phát triển
HỒNG NHUNG |
|
Tuần qua, tại tòa nhà E-Town (Tân Bình, TPHCM),
Hội thảo quốc gia lần thứ nhất về Công nghệ Thông
tin (CNTT) đã được tổ chức. Sau đây là những ghi
nhận của PV e-CHÍP: |
|
Thiếu nên chậm mà thừa cũng
chậm |
|
Ở giai đoạn từ 2002 - 2005, TPHCM đã vạch kế hoạch
triển khai 9 chương trình và 12 dự án về CNTT. Trừ
Dự án Chợ trên mạng và Công viên Phần mềm Quang
Trung đã hoàn tất, Dự án Tin học hóa quản lý hành
chính đã thực hiện được 90%, đang có khoảng 1/3
chương trình - dự án vừa bắt đầu triển khai, 1/3
chưa triển khai hoặc chỉ mới khởi động. Ông Nguyễn
Thiện Nhân - Phó Chủ tịch UBND TPHCM, cho rằng: Sự
yếu kém và chậm trễ này bắt nguồn từ một chuỗi
nguyên nhân như không có cán bộ chuyên trách triển
khai các dự án. Bộ máy chuyên trách quản lý kém,
năng lực quản lý dự án CNTT ở các cấp còn yếu, dẫn
đến thiếu khả năng liên kết giữa các doanh nghiệp -
cơ quan nghiên cứu khoa học - đào tạo và chính quyền
thành phố. Đào tạo CNTT chưa gắn với nhu cầu của
doanh nghiệp. Quy chế quản lý nhà nước về dự án CNTT
chưa phù hợp. Năm 2002 thành phố được cấp 100 tỷ
đồng nhưng chỉ giải ngân được 22 tỷ đồng và năm 2003
sẽ cố gắng giải ngân trên 50 tỷ đồng. |
|
Không riêng TPHCM, việc triển khai các dự án ở nhiều
địa phương khác cũng hết sức chậm trễ. Tỉnh Trà Vinh
có 17 dự án thuộc Đề án 112. Theo kế hoạch, Nhà nước
sẽ rót cho tỉnh 26 tỷ đồng để thực hiện Đề án 112,
song năm 2002, Trà Vinh chỉ nhận được 450 triệu. Đến
tháng 9/ 2003 mới được cấp thêm 500 triệu đồng nên
không thể triển khai hoạt động của năm 2003. Ông Đào
Thanh Lâm - Phó giám đốc Trung tâm Tin học Trà Vinh,
(đơn vị triển khai dự án) giải bày: tỉnh không thể
tạm ứng trước để chủ động thực hiện kế hoạch vì
không biết kinh phí sẽ được cấp cho mỗi năm là bao
nhiêu. Đành xin dời khoản kinh phí này vào nguồn vốn
2004. |
|
Những ngộ nhận |
|
Ông Hoàng Minh Châu - Phó chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp
Phần mềm VN, cho biết: năm 2003, dự kiến lĩnh vực phần
mềm và dịch vụ phần mềm sẽ đạt 100 triệu USD. Đây là một
cố gắng lớn trong tình hình doanh thu từ thị trường phần
mềm và dịch vụ phần mềm trên thế giới đang giảm sút. Tuy
nhiên, để hoàn thành chỉ tiêu đạt 500 triệu USD vào năm
2005, cần xét lại chiến lược công nghiệp phần mềm
(CNPM). Theo ông Châu, xuất khẩu phần mềm VN chỉ chiếm
20% giá trị CNPM và không thể có ngành CNPM nếu không có
xuất khẩu. Đang có sự ngộ nhận về các lợi thế không
thực, như sự khuếch trương quá mức về nguồn nhân công rẻ
trong khi năng suất lao động mới là yếu tố quyết định.
Chúng ta nhấn mạnh quá mức về lợi thế “thông minh” của
người Việt nhưng CNPM cần người biết làm việc và muốn
trở thành lập trình viên có năng suất cao, người thông
minh cũng cần được đào tạo. Lợi thế nhân công cho ngành
CNPM chưa đủ để thu hút đầu tư nước ngoài vì chúng ta
chưa có thị trường nhân lực đúng nghĩa. Niềm tin vào các
chính sách ưu đãi trong đầu tư cũng là sự ngộ nhận vì
tính chất ưu đãi chỉ thể hiện khi so với chính sách của
VN cách nay vài năm, chứ không thể so với chính sách thu
hút đầu tư của các đối thủ cạnh tranh như: Malaysia,
Singapore, Trung Quốc... |
|
Với thị trường máy tính, ông Bùi Quang Độ - Chủ tịch
Hiệp hội Doanh nghiệp Điện tử VN, nhận xét: chính
sách như hiện nay khiến rất khó đạt chỉ tiêu nội địa
hóa 15% sản phẩm. Không thể áp dụng chính sách nội
địa hóa cho ngành công nghiệp điện tử như ngành cơ
khí. Chi phí sản xuất thùng máy tính (case) ở Đài
Loan là 7USD, trong khi đó tại VN, giá thành case
máy tính lên tới 25USD. Ông Hoàng Minh Châu bổ sung,
giá trị một chiếc máy tính không nằm ở phần linh
kiện mà ở lợi ích của người dùng. Liệu chúng ta có
đủ khả năng và có nhất thiết phải nội địa hóa hay
không, khi mà đầu tư một nhà máy sản xuất chip như
Intel sẽ tốn khoảng một tỷ USD và phải thay đổi công
nghệ sau 18 tháng? |
|
Cũng vì vậy, đại biểu đề nghị xem lại quan niệm về
“nội địa hóa”. Cần hiểu “nội địa hóa” là năng lực
sáng tạo của người Việt, theo thiết kế của riêng
người Việt, có sự chọn lọc trong lắp ráp. Do chính
sách thuế nhập khẩu bất hợp lý, doanh nghiệp không
dám nhập sản phẩm công nghệ cao để lắp ráp (vừa phải
chịu thuế nhập khẩu 5%, vừa phải chịu thuế GTGT) mà
chọn giải pháp an toàn hơn là nhập nguyên chiếc.
Điều này ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của
công nghiệp điện tử trong nước... |
|
Chính sách: bài toán chờ lời
giải |
|
Phần lớn bức xúc mà các đại biểu nêu ra trong ba
ngày hội thảo đều có nguồn gốc từ bất hợp lý về
chính sách. Với ông Nguyễn Thiện Nhân, đó là vì quy
chế quản lý chưa phù hợp, khâu chuẩn bị và phê duyệt
dự án quá dài, việc bảo vệ sở hữu trí tuệ còn thả
nổi. Bên cạnh đó chưa có chính sách hỗ trợ cụ thể
cho doanh nghiệp, chưa có chế độ khen thưởng hợp lý
cho các cá nhân xuất sắc để tạo động lực phát triển. |
|
Mặt khác, do thiếu cơ quan chuyên trách quản lý nên
không cá nhân hoặc cơ quan cụ thể nào chịu trách
nhiệm trong điều hành việc phát triển CNTT ở các địa
phương. TS Nguyễn Trọng – Chánh Văn phòng Ban Chỉ
đạo CNTT Quốc gia, băn khoăn: Hiện nay, khi có kế
hoạch ứng dụng CNTT, các bộ – ngành đều chủ động làm
dự án đưa qua Bộ Kế hoạch – Đầu tư và việc mạnh ai
nấy làm chưa cho thấy vai trò quản lý tổng thể của
Chính phủ. |
|
Sự cứng nhắc của chính sách và những bất hợp lý về thuế,
cũng như việc thiếu các qui phạm pháp luật, các chuẩn
quốc gia về công nghệ - đào tạo sẽ cản bước phát triển
của CNTT. Để khắc phục, TS Lê Trường Tùng đề nghị: “Phải
nắm rõ thực trạng, phải có những số liệu chính xác thì
mới xây dựng được định hướng phát triển đúng”. |
|
Kết thức hội thảo, TS Mai Liêm Trực - Thứ trưởng Bộ
Bưu chính - Viễn thông khẳng định: “Sau khi rút kinh
nghiệm về ba năm triển khai Chỉ thị 58 sẽ có đánh
giá đúng mức về thực trạng nền CNTT hiện nay và Viện
Chiến lược sẽ soạn thảo chiến lược phát triển CNTT”. |
|
|
|
 |
|
 |