Số 29
CHUYÊN ĐỀ

Chuyên đề Net vào trường: Chỉ mới tới cổng…
NHÓM PV THỜI SỰ

Cách nay khoảng bốn tháng, Bộ Bưu chính Viễn thông (BCVT) và Bộ Giáo dục-Đào tạo (GDĐT) đã đạt được một thoả thuận về hợp tác phát triển mạng giáo dục (EDUNET), bao gồm cả việc đưa Internet đến các trường học trên phạm vi toàn quốc. Theo thỏa thuận vừa nêu, Bộ BCVT sẽ triển khai đường kết nối đến “tận cổng” các cơ sở GDĐT, còn Bộ GDĐT thì chịu trách nhiệm “bên trong cổng”.

Một bên rán bước thật nhanh...

Sau tuyên bố của GS Đỗ Trung Tá - Bộ trưởng BCVT về việc “tạo ra một bước đột phá về Internet ngay trong năm 2003; phấn đấu để tất cả các trường đại học (ĐH), cao đẳng (CĐ), trung học chuyên nghiệp (THCN) và trung học phổ thông (THPT) trên phạm vi toàn quốc có thể kết nối với Internet, đồng thời hỗ trợ cả các trường trung học cơ sở (THCS) và tiểu học (TH) ở những địa bàn đủ điều kiện làm được điều này...”, Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) đã xây dựng “Đề án đưa Internet tới các trường ĐH, CĐ và THPT” theo tiến độ các dự án có sẵn như : Dự án mở rộng VNN4, Dự án đầu tư hệ thống dịch vụ xDSL...

Đề án của VNPT được chia thành hai giai đoạn. Giai đoạn I, triển khai đồng loạt ở tất cả các tỉnh, thành và tập trung hỗ trợ tối đa cho Văn phòng Bộ GDĐT, các trường ĐH trọng điểm, các đơn vị đã sẵn sàng về thiết bị, các đơn vị có nhu cầu cao về sử dụng Internet... Sang giai đoạn II, VNPT sẽ triển khai hạ tầng cơ sở mạng tại những địa bàn mà mạng chưa phủ tới và thực hiện kết nối cho các điểm còn lại. Về phương thức kết nối, nhờ mạng điện thoại cố định đã phủ 61/ 61 tỉnh, thành nên VNPT sẽ cung cấp dịch vụ Internet tốc độ cao ADSL (thích hợp với các đơn vị cơ sở, đặc biệt là trường học ở cấp huyện). Nhằm tăng tính khả thi cho đề án, VNPT còn đưa ra ba phương án kết nối dự phòng: kết nối bằng kênh trực tiếp leased line, kết nối qua kênh vô tuyến (wireless) và kết nối bằng phương thức dial-up PSTN/ISDN truyền thống trong trường hợp ADSL gặp sự cố, để giúp các cơ sở GDĐT lựa chọn sao cho phù hợp với khả năng đầu tư và nhu cầu thực tế của từng trường.

Bên cạnh đó, để đề án có thể triển khai suôn sẻ, Bộ BCVT đã gởi công văn đề nghị UBND các tỉnh, thành chỉ đạo các Sở GDĐT phối hợp với các doanh nghiệp viễn thông và Internet trên địa bàn tổ chức thực hiện đề án tại địa phương. Ngoài ra, Bộ còn đề nghị sử dụng ngân sách địa phương và các nguồn kinh phí khác để trang bị thêm máy tính cho các trường nhằm tạo điều kiện cho học sinh, sinh viên (HSSV) đủ điều kiện sử dụng máy tính, truy cập Internet, góp phần khai thác có hiệu quả cơ sở hạ tầng kết nối Internet đã được đầu tư.

Công ty Điện toán và Truyền số liệu (VDC) – một đơn vị trực thuộc VNPT đã xây dựng xong đề án nhằm đảm bảo cho tất cả đối tượng trong các cơ sở GDĐT có thể sử dụng Internet với giá ưu đãi để có thể tiếp cận các ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) phục vụ công tác quản lý, trao đổi, tra cứu, giảng dạy về máy tính – Internet. Ngoài việc hỗ trợ đào tạo, tư vấn, đáp ứng những nhu cầu về các sản phẩm gia tăng giá trị... VDC còn hỗ trợ về giá cước, chính sách e-mail riêng, cho mượn thiết bị đầu cuối... Cụ thể: Không tính cước cài đặt, áp dụng giá cước ở mức 40 đồng/phút không hạn chế thời điểm, thời lượng truy cập và cho mượn hoàn toàn miễn phí modem trên mỗi thuê bao, với đường dây thuê riêng leased line thì chỉ tính mức cước thuê cổng tối đa 3 triệu đồng/kênh 64K bao gồm cả cước thông tin, mỗi HSSV sẽ được cấp địa chỉ e-mail riêng...).

Đến tháng 5/2003, sau khi VNPT phát động đợt thi đua đưa Internet đến trường học trong các bưu điện tỉnh, thành phố, Bưu điện Trà Vinh là đơn vị hoàn thành yêu cầu này sớm nhất (đưa Internet tới 30 trường THPT, THCN, CĐ trên địa bàn). Đến cuối tháng 6/2003, 100% trường học ở Cần Thơ cũng đã kết nối với Internet. Bưu điện Cần Thơ đã hỗ trợ mỗi trường hai triệu đồng (quy thành một modem, đường điện thoại và 300.000 đồng cước truy nhập). Tiếp đó, là bưu điện nhiều tỉnh, thành phố khác, như Bưu điện Bắc Ninh (thiết lập 48 account Internet VNN 1260 tại Sở GDĐT và 37 trường THPT, 10 trường ĐH, CĐ, THCN), Bưu điện Bắc Giang (67 cơ sở GDĐT kết nối với Internet, ngoài các phòng giáo dục, trường THCN, trường THPT cả công lập lẫn dân lập, trường dân tộc nội trú, trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm tin học ngoại ngữ, trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp, còn có một trường mầm non). Ở Thái Nguyên, Bưu điện tỉnh đã đưa Internet vào 49 trường ĐH, CĐ, THCN, THPT...

Tại miền Trung và Tây Nguyên, 100% trường học nằm trên địa bàn tỉnh Đắc Lắc đã kết nối Internet theo phương thức dial-up. Bưu điện tỉnh đã mua tặng các trường modem, sách hướng dẫn sử dụng, cung cấp 40 giờ truy cập Internet miễn phí. Ở Đà Nẵng, việc triển khai Internet đến các trường THPT, THCN cũng đã hoàn tất vào ngày 10/8. Bưu điện Đà Nẵng cũng hỗ trợ toàn bộ modem cho các trường trước nay chưa thực hiện kết nối Internet. Ở Phú Yên, Bưu điện tỉnh đã đưa Internet đến 47 trường CĐ, THCN - dạy nghề và THPT...

Và bên còn lại thì...

Ngược ra phía Bắc, Bắc Giang tuy là một trong những tỉnh đầu tiên ở miền Bắc hoàn thành việc đưa Internet đến 100% trường học. Thế nhưng khi tiếp xúc với chúng tôi, ông Nguyễn Đức Hiền, Hiệu trưởng trường THPT chuyên ban Ngô Sĩ Liên (một trong hai trường đạt chuẩn quốc gia ở Bắc Giang), thừa nhận: “Gần như toàn bộ giáo viên của trường đang mù tin học. Tuy cố gắng tổ chức dạy tin học cho học sinh nhưng vì chỉ có 24 máy tính, giờ thực hành ít, nên hiệu quả chưa cao. Muốn phát huy tác dụng của mạng Internet, Sở GDĐT phải có trung tâm thông tin cung cấp tin tức từ nhiều nguồn, đồng thời hướng dẫn các trường hoạt động theo quy trình mới. Cần tránh tình trạng có mạng Internet nhưng vẫn phải đi lại giao nhận công văn, giấy tờ. Do các khó khăn về tài chính, trong vòng vài năm tới rất khó đạt tỷ lệ 20%-30% giáo viên và học sinh được sử dụng Internet”.

[Đầu trang]

Còn ông Phạm Văn Mão, Hiệu trưởng trường THPT Thái Thuận, cho biết: “Trường chỉ dạy tin học cho học sinh khối lớp 10 hệ A vì chỉ có 10 máy tính. Học sinh hệ B thì học tin học trong chương trình học nghề và chỉ chọn mỗi lớp năm em. Cũng vì thiếu máy tính, việc kết nối Internet cho học sinh sử dụng phải chờ chỉ đạo từ Sở GDĐT”.

Là trường mầm non duy nhất ở Bắc Giang được kết nối với Internet nhưng cô Vi Thị Bình, Hiệu trưởng trường Mầm non tỉnh, chỉ biết: “Sau khi kết nối Internet thì có thể vào mạng để xem thông báo của Sở, có thể gửi báo cáo mà không phải đi lại và chúng tôi đang chờ có thể làm được như vậy”.

Ở Bắc Giang hiện chỉ mới có trường Cao đẳng Sư phạm dành riêng một đường điện thoại để truy cập Internet và dù kết nối 24/24g nhưng chỉ có giáo viên khai thác Internet, còn sinh viên “chưa có nhu cầu”, kể cả vào ngoài giờ....

Khi trao đổi về những tồn tại này, ông Đào Ngọc Nam, Phó phòng Kế hoạch Sở GDĐT Bắc Giang, thông báo với chúng tôi: “Trung tâm CNTT của Bộ GDĐT đã giúp Sở hoàn thành website của ngành GDĐT Bắc Giang tại địa chỉ www.bacgiang.edu.vn. Đây là mạng giáo dục đầu tiên có đầy đủ thông tin về các trường, bậc, ngành học trong hệ thống giáo dục của tỉnh. Mọi người có thể truy cập website này để tra cứu điểm thi vào các trường THPT của tỉnh, điểm thi tốt nghiệp THPT, điểm thi ĐH. Sở sẽ trang bị thêm 100 máy tính cho các trường để sử dụng như máy chủ, sẽ tạo điều kiện để 10 phòng giáo dục kết nối Internet và đến năm 2004 sẽ đưa Internet đến các trường THCS. Đầu năm học này, mỗi trường sẽ có một đường điện thoại riêng để truy cập Internet”. Tuy nhiên, cũng theo ông Nam, thì Sở GDĐT Bắc Giang sẽ quy định giờ để trường và học sinh vào mạng xem thông tin, thông báo,... đồng thời “vẫn duy trì việc gửi mọi thứ bằng đường công văn!”.

Xuôi về miền Tây, tại An Giang, đầu tháng 7/2003, sau khi Bưu điện tỉnh đã triển khai kế hoạch đưa Internet vào các trường THPT trên địa bàn tỉnh (hỗ trợ mỗi trường một đường điện thoại miễn phí, một modem lắp trong và 300.000 đồng cước phí ba tháng đầu tiên), ông Lý Thanh Tú , Phó phòng Hành chánh Sở GDĐT An Giang, nhận xét: “Trước đó, toàn tỉnh chỉ có 13/61 trường THPT chủ động kết nối Internet để phục vụ nhu cầu của một số cán bộ quản lý, giáo viên. Còn bây giờ, đa số đều đã kết nối Internet nhưng khai thác thế nào cho hiệu quả vẫn là mối băn khoăn rất lớn của ngành giáo dục. Việc hướng dẫn giáo viên và học sinh sử dụng Internet không phức tạp nhưng truy cập vào đâu, khai thác cái gì có lợi cho quá trình giảng dạy, học tập thì đến nay vẫn hết sức mù mờ, không có bất cứ tài liệu, thông tin nào về những địa chỉ đáng tin cậy”. Riêng ông Võ Thành Long, Trưởng phòng Trung học của Sở GDĐT, thì bảo: “Mục tiêu lớn nhất mà ngành giáo dục An Giang nhắm đến khi triển khai chương trình Internet trường học là tạo điều kiện để các trường THPT có thể kết nối trực tiếp với thư viện điện tử của ĐH An Giang để khai thác thông tin, tìm kiếm kiến thức bổ ích phục vụ giảng dạy, học tập. Thế nhưng đến nay ĐH An Giang vẫn chưa ra mắt website riêng”.

An Giang đang nhắm tới mục tiêu đến năm 2005 sẽ có 100% trường THPT và 60% trường THCS trong tỉnh kết nối, khai thác mạng Internet phục vụ nhu cầu giảng dạy, học tập. Trước mắt, Sở GDĐT An Giang quy định đến cuối tháng 9/2003, các trường được kết nối Internet phải thực hiện chế độ giao tiếp với Sở qua mạng, từng bước làm quen với việc sử dụng mạng thông tin và hạn chế việc báo cáo, nhận chỉ đạo bằng đường công văn.

Làm sao để khả thi?

Đưa Internet đến các trường là một kế hoạch đáng khích lệ. Thế nhưng thực tế cho thấy cần phải quan tâm đến nhiều yếu tố khác để biến những nỗ lực này trở thành khả thi: Để có thể kết nối Internet, tối thiểu phải có điện, điện thoại, máy tính và đội ngũ hướng dẫn sử dụng, khai thác... mà đây là những thứ các trường vùng sâu, vùng xa rất thiếu, khó có thể hỗ trợ cùng lúc và ngay lập tức. Mặt khác, tuy ngành BCVT đã có những hỗ trợ đáng kể về tài chính song chi phí cho truy cập Internet vẫn vượt ngoài tầm với của nhiều trường. Ở không ít trường, chi phí dành cho Internet không được phép vượt quá một con số hết sức khiêm tốn. Đó vẫn còn là một loại “dịch vụ xa xỉ” nên nhiều vị hiệu trưởng khóa chặt, cất kỹ máy tính có thể kết nối Internet. Có trường, cửa phòng máy tính chỉ mở khi có giờ thực hành; còn ngoài giờ giảng dạy, ngay cả giáo viên cũng không được phép vào phòng này. CNTT vốn tác động sâu sắc đến cả phương pháp lẫn nội dung giảng dạy. Vì vậy, không thể tách rời công nghệ giáo dục với CNTT. Sẽ rất khó đạt mục tiêu mong đợi khi triển khai kết nối Internet cho trường đại học nào đó song lại không hề quan tâm đến việc huấn luyện cho HSSV kỹ năng sử dụng, khai thác Internet phục vụ học tập, nghiên cứu.

Khi thỏa thuận phối hợp để đưa Net vào trường, Bộ GDĐT nhận trách nhiệm phát triển mạng EduNet để tăng hiệu quả sử dụng Internet trong nhà trường. Ông Quách Tuấn Ngọc, Giám đốc Trung tâm CNTT thuộc Bộ GDĐT, khẳng định: “Không có nội dung thì mạng EduNet sẽ chết!”. Theo ông Ngọc, nội dung đưa lên mạng sẽ là những mẫu giáo án tốt, văn bản của các cấp quản lý giáo dục, chính sách của ngành, giáo trình điện tử, thư viện điện tử, sách giáo khoa điện tử, tin thời sự giáo dục, phần mềm dạy học, phần mềm quản lý... Thế nhưng ai sẽ chịu trách nhiệm đảm trách nội dung? Nếu không cập nhật thường xuyên thì EduNet có cũng như không. Hiện nay, dù quy mô nhỏ nhưng việc cập nhật nội dung trên website của Bộ GDĐT cũng hết sức chậm chạp. Website của Bộ và hầu hết website của các trường đều trong tình trạng “hữu sinh vô dưỡng”. Toàn bộ văn bản trong ngành giáo dục vẫn theo đường văn thư đến tay cơ sở. Ngay cả những nội dung liên quan trực tiếp đến số đông giáo viên, HSSV như các quy định về thi cử, nội dung hướng dẫn thi tốt nghiệp cũng không thể tìm thấy trên mạng, trong khi nhiều doanh nghiệp ngoài ngành đã cung cấp dịch vụ luyện thi, tư vấn... từ lâu!

Theo kế hoạch đã đề ra, đến cuối năm nay, tất cả các trường ĐH và THPT trên toàn quốc sẽ được kết nối với Internet. Tuy nhiên, dù có “100% trường được kết nối với Internet” thì điều đó vẫn vô nghĩa, nếu không quan tâm đến huấn luyện, nâng cao kỹ năng sử dụng Internet phục vụ giảng dạy, học tập, nghiên cứu của cả giáo viên lẫn HSSV.

[Đầu trang]
Trang chủ
Thư ngỏ
Nội lực "Peter Pan"
Cầu nối Intel Việt Nam
Chuyện trong tuần
Nhóm Frontpage
Cõi người ta
Kim cương doanh nghiệp
Bình luận thị trường
Cõi Mô-bai
Chuyên đề
Bổ ngửa
Nuôi hồn Robot
Túi càn khôn IT
Hồ lô biến
Cảm về Game
Nhật ký e-CHÍP
Bản quyền VASC Orient, Công ty phát triển phần mềm VASC
99 Triệu Việt Vương HN; Tel: (04) 9782235 • email: echip@vasc.com.vn