 |
|
CHUYÊN ĐỀ |
|
Chuyên đề Net vào
trường: Chỉ mới tới cổng…
NHÓM PV THỜI SỰ |
|
Cách nay khoảng bốn tháng, Bộ Bưu chính Viễn
thông (BCVT) và Bộ Giáo dục-Đào tạo (GDĐT) đã đạt
được một thoả thuận về hợp tác phát triển mạng giáo
dục (EDUNET), bao gồm cả việc đưa Internet đến các
trường học trên phạm vi toàn quốc. Theo thỏa thuận
vừa nêu, Bộ BCVT sẽ triển khai đường kết nối đến
“tận cổng” các cơ sở GDĐT, còn Bộ GDĐT thì chịu
trách nhiệm “bên trong cổng”. |
|
Một bên rán bước thật
nhanh... |
|
Sau tuyên bố của GS Đỗ Trung Tá - Bộ trưởng BCVT về
việc “tạo ra một bước đột phá về Internet ngay trong
năm 2003; phấn đấu để tất cả các trường đại học
(ĐH), cao đẳng (CĐ), trung học chuyên nghiệp (THCN)
và trung học phổ thông (THPT) trên phạm vi toàn quốc
có thể kết nối với Internet, đồng thời hỗ trợ cả các
trường trung học cơ sở (THCS) và tiểu học (TH) ở
những địa bàn đủ điều kiện làm được điều này...”,
Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) đã
xây dựng “Đề án đưa Internet tới các trường ĐH, CĐ
và THPT” theo tiến độ các dự án có sẵn như : Dự án
mở rộng VNN4, Dự án đầu tư hệ thống dịch vụ xDSL... |
|
Đề án của VNPT được chia thành hai giai đoạn. Giai đoạn
I, triển khai đồng loạt ở tất cả các tỉnh, thành và tập
trung hỗ trợ tối đa cho Văn phòng Bộ GDĐT, các trường ĐH
trọng điểm, các đơn vị đã sẵn sàng về thiết bị, các đơn
vị có nhu cầu cao về sử dụng Internet... Sang giai đoạn
II, VNPT sẽ triển khai hạ tầng cơ sở mạng tại những địa
bàn mà mạng chưa phủ tới và thực hiện kết nối cho các
điểm còn lại. Về phương thức kết nối, nhờ mạng điện
thoại cố định đã phủ 61/ 61 tỉnh, thành nên VNPT sẽ cung
cấp dịch vụ Internet tốc độ cao ADSL (thích hợp với các
đơn vị cơ sở, đặc biệt là trường học ở cấp huyện). Nhằm
tăng tính khả thi cho đề án, VNPT còn đưa ra ba phương
án kết nối dự phòng: kết nối bằng kênh trực tiếp leased
line, kết nối qua kênh vô tuyến (wireless) và kết nối
bằng phương thức dial-up PSTN/ISDN truyền thống trong
trường hợp ADSL gặp sự cố, để giúp các cơ sở GDĐT lựa
chọn sao cho phù hợp với khả năng đầu tư và nhu cầu thực
tế của từng trường. |
|
Bên cạnh đó, để đề án có thể triển khai suôn sẻ, Bộ BCVT
đã gởi công văn đề nghị UBND các tỉnh, thành chỉ đạo các
Sở GDĐT phối hợp với các doanh nghiệp viễn thông và
Internet trên địa bàn tổ chức thực hiện đề án tại địa
phương. Ngoài ra, Bộ còn đề nghị sử dụng ngân sách địa
phương và các nguồn kinh phí khác để trang bị thêm máy
tính cho các trường nhằm tạo điều kiện cho học sinh,
sinh viên (HSSV) đủ điều kiện sử dụng máy tính, truy cập
Internet, góp phần khai thác có hiệu quả cơ sở hạ tầng
kết nối Internet đã được đầu tư. |
|
Công ty Điện toán và Truyền số liệu (VDC) – một đơn vị
trực thuộc VNPT đã xây dựng xong đề án nhằm đảm bảo cho
tất cả đối tượng trong các cơ sở GDĐT có thể sử dụng
Internet với giá ưu đãi để có thể tiếp cận các ứng dụng
công nghệ thông tin (CNTT) phục vụ công tác quản lý,
trao đổi, tra cứu, giảng dạy về máy tính – Internet.
Ngoài việc hỗ trợ đào tạo, tư vấn, đáp ứng những nhu cầu
về các sản phẩm gia tăng giá trị... VDC còn hỗ trợ về
giá cước, chính sách e-mail riêng, cho mượn thiết bị đầu
cuối... Cụ thể: Không tính cước cài đặt, áp dụng giá
cước ở mức 40 đồng/phút không hạn chế thời điểm, thời
lượng truy cập và cho mượn hoàn toàn miễn phí modem trên
mỗi thuê bao, với đường dây thuê riêng leased line thì
chỉ tính mức cước thuê cổng tối đa 3 triệu đồng/kênh 64K
bao gồm cả cước thông tin, mỗi HSSV sẽ được cấp địa chỉ
e-mail riêng...). |
|
Đến
tháng 5/2003, sau khi VNPT phát động đợt thi đua đưa
Internet đến trường học trong các bưu điện tỉnh, thành
phố, Bưu điện Trà Vinh là đơn vị hoàn thành yêu cầu này
sớm nhất (đưa Internet tới 30 trường THPT, THCN, CĐ trên
địa bàn). Đến cuối tháng 6/2003, 100% trường học ở Cần
Thơ cũng đã kết nối với Internet. Bưu điện Cần Thơ đã hỗ
trợ mỗi trường hai triệu đồng (quy thành một modem,
đường điện thoại và 300.000 đồng cước truy nhập). Tiếp
đó, là bưu điện nhiều tỉnh, thành phố khác, như Bưu điện
Bắc Ninh (thiết lập 48 account Internet VNN 1260 tại Sở
GDĐT và 37 trường THPT, 10 trường ĐH, CĐ, THCN), Bưu
điện Bắc Giang (67 cơ sở GDĐT kết nối với Internet,
ngoài các phòng giáo dục, trường THCN, trường THPT cả
công lập lẫn dân lập, trường dân tộc nội trú, trung tâm
giáo dục thường xuyên, trung tâm tin học ngoại ngữ,
trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp, còn có một trường
mầm non). Ở Thái Nguyên, Bưu điện tỉnh đã đưa Internet
vào 49 trường ĐH, CĐ, THCN, THPT... |
|
Tại miền Trung và Tây Nguyên, 100% trường học nằm trên
địa bàn tỉnh Đắc Lắc đã kết nối Internet theo phương
thức dial-up. Bưu điện tỉnh đã mua tặng các trường
modem, sách hướng dẫn sử dụng, cung cấp 40 giờ truy cập
Internet miễn phí. Ở Đà Nẵng, việc triển khai Internet
đến các trường THPT, THCN cũng đã hoàn tất vào ngày
10/8. Bưu điện Đà Nẵng cũng hỗ trợ toàn bộ modem cho các
trường trước nay chưa thực hiện kết nối Internet. Ở Phú
Yên, Bưu điện tỉnh đã đưa Internet đến 47 trường CĐ,
THCN - dạy nghề và THPT... |
|
Và bên còn lại thì... |
|
Ngược ra phía Bắc, Bắc Giang tuy là một trong những tỉnh
đầu tiên ở miền Bắc hoàn thành việc đưa Internet đến
100% trường học. Thế nhưng khi tiếp xúc với chúng tôi,
ông Nguyễn Đức Hiền, Hiệu trưởng trường THPT chuyên ban
Ngô Sĩ Liên (một trong hai trường đạt chuẩn quốc gia ở
Bắc Giang), thừa nhận: “Gần như toàn bộ giáo viên của
trường đang mù tin học. Tuy cố gắng tổ chức dạy tin học
cho học sinh nhưng vì chỉ có 24 máy tính, giờ thực hành
ít, nên hiệu quả chưa cao. Muốn phát huy tác dụng của
mạng Internet, Sở GDĐT phải có trung tâm thông tin cung
cấp tin tức từ nhiều nguồn, đồng thời hướng dẫn các
trường hoạt động theo quy trình mới. Cần tránh tình
trạng có mạng Internet nhưng vẫn phải đi lại giao nhận
công văn, giấy tờ. Do các khó khăn về tài chính, trong
vòng vài năm tới rất khó đạt tỷ lệ 20%-30% giáo viên và
học sinh được sử dụng Internet”. |
|
|
|
Còn ông Phạm Văn Mão, Hiệu trưởng trường THPT Thái
Thuận, cho biết: “Trường chỉ dạy tin học cho học sinh
khối lớp 10 hệ A vì chỉ có 10 máy tính. Học sinh hệ B
thì học tin học trong chương trình học nghề và chỉ chọn
mỗi lớp năm em. Cũng vì thiếu máy tính, việc kết nối
Internet cho học sinh sử dụng phải chờ chỉ đạo từ Sở
GDĐT”. |
|
Là trường mầm non duy nhất ở Bắc Giang được kết nối với
Internet nhưng cô Vi Thị Bình, Hiệu trưởng trường Mầm
non tỉnh, chỉ biết: “Sau khi kết nối Internet thì có thể
vào mạng để xem thông báo của Sở, có thể gửi báo cáo mà
không phải đi lại và chúng tôi đang chờ có thể làm được
như vậy”. |
|
Ở Bắc Giang hiện chỉ mới có trường Cao đẳng Sư phạm dành
riêng một đường điện thoại để truy cập Internet và dù
kết nối 24/24g nhưng chỉ có giáo viên khai thác
Internet, còn sinh viên “chưa có nhu cầu”, kể cả vào
ngoài giờ.... |
|
Khi trao đổi về những tồn tại này, ông Đào Ngọc Nam, Phó
phòng Kế hoạch Sở GDĐT Bắc Giang, thông báo với chúng
tôi: “Trung tâm CNTT của Bộ GDĐT đã giúp Sở hoàn thành
website của ngành GDĐT Bắc Giang tại địa chỉ
www.bacgiang.edu.vn. Đây là mạng giáo dục đầu tiên
có đầy đủ thông tin về các trường, bậc, ngành học trong
hệ thống giáo dục của tỉnh. Mọi người có thể truy cập
website này để tra cứu điểm thi vào các trường THPT của
tỉnh, điểm thi tốt nghiệp THPT, điểm thi ĐH. Sở sẽ trang
bị thêm 100 máy tính cho các trường để sử dụng như máy
chủ, sẽ tạo điều kiện để 10 phòng giáo dục kết nối
Internet và đến năm 2004 sẽ đưa Internet đến các trường
THCS. Đầu năm học này, mỗi trường sẽ có một đường điện
thoại riêng để truy cập Internet”. Tuy nhiên, cũng theo
ông Nam, thì Sở GDĐT Bắc Giang sẽ quy định giờ để trường
và học sinh vào mạng xem thông tin, thông báo,... đồng
thời “vẫn duy trì việc gửi mọi thứ bằng đường công
văn!”. |
|
Xuôi về miền Tây, tại An Giang, đầu tháng 7/2003, sau
khi Bưu điện tỉnh đã triển khai kế hoạch đưa Internet
vào các trường THPT trên địa bàn tỉnh (hỗ trợ mỗi trường
một đường điện thoại miễn phí, một modem lắp trong và
300.000 đồng cước phí ba tháng đầu tiên), ông Lý Thanh
Tú , Phó phòng Hành chánh Sở GDĐT An Giang, nhận xét:
“Trước đó, toàn tỉnh chỉ có 13/61 trường THPT chủ động
kết nối Internet để phục vụ nhu cầu của một số cán bộ
quản lý, giáo viên. Còn bây giờ, đa số đều đã kết nối
Internet nhưng khai thác thế nào cho hiệu quả vẫn là mối
băn khoăn rất lớn của ngành giáo dục. Việc hướng dẫn
giáo viên và học sinh sử dụng Internet không phức tạp
nhưng truy cập vào đâu, khai thác cái gì có lợi cho quá
trình giảng dạy, học tập thì đến nay vẫn hết sức mù mờ,
không có bất cứ tài liệu, thông tin nào về những địa chỉ
đáng tin cậy”. Riêng ông Võ Thành Long, Trưởng phòng
Trung học của Sở GDĐT, thì bảo: “Mục tiêu lớn nhất mà
ngành giáo dục An Giang nhắm đến khi triển khai chương
trình Internet trường học là tạo điều kiện để các trường
THPT có thể kết nối trực tiếp với thư viện điện tử của
ĐH An Giang để khai thác thông tin, tìm kiếm kiến thức
bổ ích phục vụ giảng dạy, học tập. Thế nhưng đến nay ĐH
An Giang vẫn chưa ra mắt website riêng”. |
|
An Giang đang nhắm tới mục tiêu đến năm 2005 sẽ có 100%
trường THPT và 60% trường THCS trong tỉnh kết nối, khai
thác mạng Internet phục vụ nhu cầu giảng dạy, học tập.
Trước mắt, Sở GDĐT An Giang quy định đến cuối tháng
9/2003, các trường được kết nối Internet phải thực hiện
chế độ giao tiếp với Sở qua mạng, từng bước làm quen với
việc sử dụng mạng thông tin và hạn chế việc báo cáo,
nhận chỉ đạo bằng đường công văn. |
|
Làm sao để khả thi? |
|
Đưa Internet đến các trường là một kế hoạch đáng khích
lệ. Thế nhưng thực tế cho thấy cần phải quan tâm đến
nhiều yếu tố khác để biến những nỗ lực này trở thành khả
thi: Để có thể kết nối Internet, tối thiểu phải có điện,
điện thoại, máy tính và đội ngũ hướng dẫn sử dụng, khai
thác... mà đây là những thứ các trường vùng sâu, vùng xa
rất thiếu, khó có thể hỗ trợ cùng lúc và ngay lập tức.
Mặt khác, tuy ngành BCVT đã có những hỗ trợ đáng kể về
tài chính song chi phí cho truy cập Internet vẫn vượt
ngoài tầm với của nhiều trường. Ở không ít trường, chi
phí dành cho Internet không được phép vượt quá một con
số hết sức khiêm tốn. Đó vẫn còn là một loại “dịch vụ xa
xỉ” nên nhiều vị hiệu trưởng khóa chặt, cất kỹ máy tính
có thể kết nối Internet. Có trường, cửa phòng máy tính
chỉ mở khi có giờ thực hành; còn ngoài giờ giảng dạy,
ngay cả giáo viên cũng không được phép vào phòng này.
CNTT vốn tác động sâu sắc đến cả phương pháp lẫn nội
dung giảng dạy. Vì vậy, không thể tách rời công nghệ
giáo dục với CNTT. Sẽ rất khó đạt mục tiêu mong đợi khi
triển khai kết nối Internet cho trường đại học nào đó
song lại không hề quan tâm đến việc huấn luyện cho HSSV
kỹ năng sử dụng, khai thác Internet phục vụ học tập,
nghiên cứu. |
|
Khi thỏa thuận phối hợp để đưa Net vào trường, Bộ GDĐT
nhận trách nhiệm phát triển mạng EduNet để tăng hiệu quả
sử dụng Internet trong nhà trường. Ông Quách Tuấn Ngọc,
Giám đốc Trung tâm CNTT thuộc Bộ GDĐT, khẳng định:
“Không có nội dung thì mạng EduNet sẽ chết!”. Theo ông
Ngọc, nội dung đưa lên mạng sẽ là những mẫu giáo án tốt,
văn bản của các cấp quản lý giáo dục, chính sách của
ngành, giáo trình điện tử, thư viện điện tử, sách giáo
khoa điện tử, tin thời sự giáo dục, phần mềm dạy học,
phần mềm quản lý... Thế nhưng ai sẽ chịu trách nhiệm đảm
trách nội dung? Nếu không cập nhật thường xuyên thì
EduNet có cũng như không. Hiện nay, dù quy mô nhỏ nhưng
việc cập nhật nội dung trên website của Bộ GDĐT cũng hết
sức chậm chạp. Website của Bộ và hầu hết website của các
trường đều trong tình trạng “hữu sinh vô dưỡng”. Toàn bộ
văn bản trong ngành giáo dục vẫn theo đường văn thư đến
tay cơ sở. Ngay cả những nội dung liên quan trực tiếp
đến số đông giáo viên, HSSV như các quy định về thi cử,
nội dung hướng dẫn thi tốt nghiệp cũng không thể tìm
thấy trên mạng, trong khi nhiều doanh nghiệp ngoài ngành
đã cung cấp dịch vụ luyện thi, tư vấn... từ lâu! |
|
Theo kế hoạch đã đề ra, đến cuối năm nay, tất cả các
trường ĐH và THPT trên toàn quốc sẽ được kết nối với
Internet. Tuy nhiên, dù có “100%
trường được kết nối với Internet” thì điều đó vẫn vô
nghĩa, nếu không quan tâm đến huấn luyện, nâng cao kỹ
năng sử dụng Internet phục vụ giảng dạy, học tập, nghiên
cứu của cả giáo viên lẫn HSSV. |
|
|
|
 |
|
 |