|
PHẢN HỒI |
|
Ông Hoàng Đức
Thắng - Viện Khoa học Pháp lý, Bộ Tư pháp: Phải ứng
xử nhanh và mạnh
Hoài Nam ghi |
|
Việc hacker dùng thẻ tín dụng của
người khác để mua hàng trên mạng không chỉ xảy ra ở
Việt Nam. Đã có những cuộc tranh luận quanh việc quy
kết tội danh cho những trường hợp vi phạm. Theo tôi,
hành vi sử dụng thẻ tín dụng của người khác có thể
quy kết vào tội lừa đảo. Tùy theo mức độ thiệt hại,
có thể truy tố người vi phạm theo những mức độ khác
nhau. |

ÔNG HOÀNG ĐỨC THẮNG – VIỆN KHOA HỌC PHÁP LÝ,
BỘ TƯ PHÁP |
|
Ở một mức độ nhất định, còn có
thể khép thêm tội danh xâm phạm công trình an ninh
quốc gia. Hiện nay, các công trình an ninh quốc gia
được quy định là một số tuyến giao thông quan trọng
như tuyến đường sắt, tuyến liên lạc bằng điện thoại,
điện sinh hoạt. Đường cáp quang chạy vào các máy chủ
mà bị cắt cũng là xâm phạm an ninh quốc gia. Trong
trường hợp này, các hacker đã dùng con đường đánh
qua mạng, tức là không cắt dây về mặt vật lý mà cắt
về mặt logic. Về lâu dài, chúng ta cần phải có
những
sửa đổi về mặt pháp lý. |
|
Đánh cắp và sử dụng thẻ tín dụng
của người khác là một hành vi rất nghiêm trọng. Xét
theo một khía cạnh nhất định, những hành vi cấu
thành tội phạm, dù là tội phạm mới hay tội phạm cũ
thì cũng phải có sự trừng phạt một cách nghiêm khắc. |
|
Nếu bình luận về hành vi
nói trên, có thể nhìn trên ba góc độ: |
|
1. Về góc độ công nghệ:
Hành vi đánh cắp và sử dụng thẻ tín dụng của người
khác là một bước lùi về mặt công nghệ. Bởi trong
trường hợp này, hacker dùng những thông số đã được
hiển thị để rút tiền từ những thẻ tín dụng thông qua
việc mua bán trực tuyến. Trong quá khứ, có rất nhiều
trường hợp các hacker đã biến những hành vi phạm
pháp thành những bước tiến nhất định về mặt công
nghệ. Riêng trong trường hợp này, đây là một bước
lùi bởi họ đã ăn cắp ngay những thông số tín dụng ở
dạng không có mã hóa. Điều đó đặt ra một yêu cầu cấp
thiết là ta phải có sự phát triển tương ứng về mặt
công nghệ để có thể chặn đứng hành vi phạm pháp.
Ngoài ra, còn phải có sự phát triển về quy trình,
thủ tục. Các thủ tục, trình tự nhằm đảm bảo tính xác
thực của các giao dịch là vấn đề cần phải nghiên cứu
thêm. Chẳng hạn tăng cường việc sử dụng chữ ký điện
tử, sử dụng ngân hàng dữ liệu chứa đầy đủ các thông
số về một cá nhân để giảm bớt nguy cơ gian lận
thương mại. |
|
Cũng cần phải có một tổ chức mang
tính chất đoàn thể, hiệp hội bảo vệ quyền lợi người
tiêu dùng hoặc một ngân hàng lưu trữ danh tính địa
chỉ của khách hàng để đảm bảo nguyên tắc kiểm tra
chéo cả hai đầu. Khi khách hàng đặt lệnh mua hàng
hóa thì siêu thị nhận yêu cầu sẽ đặt lệnh kiểm tra
ngược lại với ngân hàng lưu giữ thông tin về khách
hàng này tại nước sở tại. Làm như vậy, có thể chặn
đứng được rất nhiều giao dịch mà người mua (là các
hacker) chỉ biết được mã số hiển thị trên thẻ. |
|
2. Ở góc độ quyền lợi người
tiêu dùng: Hành vi nói trên là một cú đánh rất
mạnh vào quyền lợi người tiêu dùng. Nó không chỉ ảnh
hưởng đến quyền lợi người bán hàng mà còn ảnh hưởng
đến quyền lợi người mua hàng hợp pháp. Việc các cửa
hàng trực tuyến cấm các địa chỉ IP Việt Nam sẽ khiến
cho những khách hàng hợp pháp mất đi cơ hội giao
dịch qua mạng. Ngoài ra, nó còn ảnh hưởng đến các
quan hệ quốc tế. |
|
Mức độ phát triển chính phủ điện
tử và thương mại điện tử ở Việt Nam được xếp vào
hàng kém nhất thế giới. Trong khi đó, Việt Nam đã ký
hiệp định e-ASEAN từ năm 2000. Hiệp định đó ghi rõ
chính phủ các nước thành viên tạo điều kiện để hỗ
trợ nguyên tắc phát triển công khai, bình đẳng và
nhất là đối xử không phân biệt giữa khách hàng các
nước với nhau. Hiện tượng đánh cắp và sử dụng thẻ
tín dụng bất hợp pháp sẽ dẫn đến việc chúng ta bị
phân biệt đối xử (một số cửa hàng trực tuyến đã bắt
đầu cấm các địa chỉ IP Việt Nam). Nếu tình trạng này
tiếp tục diễn ra thì sau này người ta có thể cấm cả
tên miền. |
|
|
|
Các nhà cung cấp dịch vụ cũng sẽ
gánh chịu nhiều thiệt hại. Thông thường, các nhà
cung cấp dịch vụ có thể hưởng lợi từ các giao dịch
mua bán trực tuyến, quảng cáo trực tuyến và bán các
dịch vụ kèm theo: Khi một người mua hàng qua mạng,
anh ta đã sử dụng luôn dịch vụ điện thoại, dịch vụ
đường truyền dẫn internet và phải trả phí cho các
dịch vụ đó. Hành vi sử dụng thẻ tín dụng bất hợp
pháp không chỉ đánh quỵ một số cửa hàng buôn bán
trực tuyến mà còn tác động đến cả người cung cấp
dịch vụ, các nhà sản xuất thẻ, các hãng thanh toán
trung gian, các hãng cung cấp dịch vụ xác thực. Một
số ngành khác cũng có thể bị ảnh hưởng theo như bưu
điện trong việc vận chuyển hàng hóa giữa các nước. |
|
Từ đây, lại nảy sinh một vấn đề
khác: Đó là quyền tự do vận chuyển hàng hóa qua biên
giới giữa các nước với nhau. Khi vận chuyển hàng hóa
từ Việt Nam sang một số nước thuộc cộng đồng châu Âu
và ngược lại, một số tổ chức đòi tăng tiền vận
chuyển, số khác yêu cầu ngoài việc chuyển tiền còn
phải mua bảo hiểm, thậm chí một số hãng không vận
chuyển vì nguy cơ thất thoát cao. Bên cạnh những khó
khăn mà chúng ta phải chịu thì việc sử dụng thẻ tín
dụng bất hợp pháp sẽ khiến cho chúng ta phải gánh
chịu thêm nhiều hậu quả từ sự vi phạm tự do vận
chuyển hàng hóa, cũng như tạo rào cản khi Việt Nam
đang muốn ra nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO. |
|
3. Xét ở góc độ quản lý:
Năm 1997, chính phủ Mỹ có chỉ đạo cho Ủy ban Thương
mại và một số bộ ngành soạn thảo một tài liệu gọi là
những nguyên tắc định hướng cho việc phát triển
thương mại điện tử ở Mỹ. Đến cuối năm 1999, họ hoàn
thành xong bản dự thảo và đã công bố vào năm 2000. |
|
Trong tài liệu này, có năm nguyên
tắc nhấn mạnh đến việc không can thiệp sâu của chính
phủ vào hoạt động thương mại điện tử. Nguyên tắc thứ
nhất là tự do cạnh tranh, chính phủ không can thiệp
vào quá trình phát triển, kinh phí, nguồn lực quản
lý của khu vực tư nhân. Nguyên tắc thứ hai là sự
tham gia của chính phủ không nhằm mục đích đặt điều
kiện giám sát và quản chế, mà chủ yếu là tạo điều
kiện, hỗ trợ và thúc đẩy. |
|
Theo tôi, Việt Nam cũng nên làm
theo cách này. Phải đẩy mạnh hơn nữa việc phát triển
của khu vực tư nhân. Khi hoạt động của khu vực tư
nhân được đẩy mạnh, Nhà nước cho họ được tham gia
cung cấp dịch vụ, được giảm giá, thậm chí được tự
xây dựng các đường truyền riêng thì họ sẽ tự có
trách nhiệm bảo mật các website giao dịch của mình
và danh tiếng của các website đó sẽ được họ nhân lên
bằng nhiều cách khác nhau. Tự họ sẽ biết làm những
điều cần thiết mà không cần chúng ta phải chỉ vẽ. Có
sự tham gia của khu vực tư nhân, các dịch vụ sẽ được
đa dạng hóa, giá thành truy cập sẽ rẻ đi rất nhiều,
từ đó làm tăng số người sử dụng. Khi đó, nhận thức
về việc sử dụng internet của cộng đồng cũng cao hơn,
số lượng hacker theo kiểu “dê con buồn sừng húc dậu
thưa” cũng sẽ giảm đi rất nhiều. |
|
Một vấn đề nữa cần quan tâm là
phải tăng cường giáo dục truyền thông, phổ biến pháp
luật về quyền và nghĩa vụ công dân. Hiện đã có các
kênh tuyên truyền nhưng chưa đủ và chưa hiệu quả.
Cần tuyên truyền cho người dân cả về ý nghĩa và lợi
ích mà internet đem lại. |
|
Cần cải tiến cả cách thức tuyên
truyền, có tham vấn, tư vấn và tranh luận. Có tham
vấn là hỏi những đối tượng trực tiếp tham gia như
những người bán hàng qua mạng, những người có kiến
thức hoặc kỹ năng máy tính có thể vượt qua những bức
tường lửa để thực hiện các giao dịch. Có tư vấn là
hỏi ý kiến các nhà chuyên môn và thậm chí là hỏi
luôn cả những đối tượng có thể thiết lập nên những
công cụ trợ giúp Nhà nước trong việc tham gia ngăn
chặn hành vi đánh cắp và sử dụng thẻ tín dụng bất
hợp pháp. Nên có tranh luận công khai trên ti-vi,
trên báo chí giữa cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan
ban hành văn bản, các cơ quan thực hiện giao dịch
với cá nhân người tiêu dùng. |
|
Trước khi có một hành động cụ
thể, chúng ta phải thay đổi về mặt nhận thức để
những người có trách nhiệm thấu hiểu tình hình này
và trợ giúp việc ban hành văn bản. Ngoài ra, phải
chú ý đầu tư nguồn lực để thực hiện. Đây không đơn
thuần chỉ là vấn đề đầu tư bao nhiêu tiền, bao nhiêu
thời gian, bao nhiêu con người mà là cơ cấu tổ chức
để triển khai. Chúng ta thường rất kém trong khâu tổ
chức, chẳng hạn như có rất nhiều tiền viện trợ nhưng
không thể giải ngân vì không lập được dự án khả thi. |
|
|