|
CHUYÊN ĐỀ QUỐC
HỘI ĐIỆN TỬ |
|
Đề án tổng thể Ứng
dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan của Quốc
hội |
|
Trung tâm Thông tin, Thư
viện và Nghiên cứu khoa học (Trung tâm TTTVNCKH) của
Văn phòng Quốc hội đã soạn thảo Đề án tổng thể “Ứng
dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan của Quốc
hội” để chuẩn bị trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội
trong vài tháng tới. Dưới đây là những nét chính của
đề án ấy… |
|
Mục tiêu ứng dụng công nghệ
thông tin (CNTT) |
|
Phấn đấu trong vòng mười năm tới, xây dựng được một
hệ thống thông tin của Quốc hội có cơ sở hạ tầng
hiện đại, hệ thống dữ liệu và các dịch vụ đa dạng,
phong phú, tính bảo mật cao để phục vụ tốt các hoạt
động của lãnh đạo Quốc hội, các cơ quan của Quốc
hội, các đại biểu Quốc hội (ĐBQH), có khả năng kết
nối với các cơ quan của Đảng, Chính phủ, Chủ tịch
nước và các Bộ, ngành trong cả nước, các Văn phòng
Đoàn ĐBQH. Tạo điều kiện để các cơ quan đoàn thể và
các tầng lớp nhân dân có thể thông qua mạng thông
tin điện tử của Quốc hội tăng cường mối liên hệ với
các cơ quan của Quốc hội và ĐBQH, góp phần tuyên
truyền về Quốc hội Việt Nam cho nhân dân cả nước và
bạn bè quốc tế nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác
lập pháp, giám sát và quyết định các vấn đề quan
trọng của đất nước. |
|
Nội dung ứng dụng CNTT |
|
Mô hình tổng quan về hệ thống thông tin của Quốc hội
dự kiến có 4 phân hệ (sơ đồ 1) : |
|
 |
|
Những trở ngại trong việc
xây dựng QHĐT |
|
- Nhận thức về vai trò và tầm quan trọng của việc
ứng dụng CNTT trong hệ thống các cơ quan của Quốc
hội còn hạn chế so với yêu cầu của Đảng và Nhà nước. |
|
- Chưa có một chiến lược tổng thể về phát triển và
ứng dụng CNTT vào các hoạt động của Quốc hội, dẫn
đến việc đầu tư còn chắp vá, tản mạn. |
|
- Hệ thống máy móc thiết bị chậm được đổi mới, nhiều
thiết bị đã hết thời hạn sử dụng, chất lượng giảm
sút. |
|
- Các phần mềm ứng dụng vừa chưa đầy đủ vừa mang
tính tản mạn, cục bộ. Hầu hết đang chạy trên các máy
lẻ nên không thể dùng chung cho toàn bộ hệ thống các
cơ quan của Quốc hội. |
|
- Hệ thống cơ sở dữ liệu phục vụ Uỷ ban Thường vụ
Quốc hội, Hội đồng Dân tộc và các Uỷ ban cũng như
tại các Đoàn ĐBQH chưa được hình thành. |
|
- Việc trao đổi thông tin điện tử và ứng dụng những
lợi thế của CNTT để khai thác thông tin trong các cơ
quan của Quốc hội còn ở mức rất thấp. |
|
- Hiệu quả sử dụng các phương tiện CNTT còn chưa cao. |
|
- Nền nếp làm việc, các thủ tục hành chính, chất
lượng cán bộ cần phải được đổi mới cho phù hợp với
đặc thù của việc ứng dụng CNTT |
|
- Thiếu trầm trọng cán bộ chủ chốt về CNTT, trình độ
sử dụng máy tính của đội ngũ chuyên viên trong các
cơ quan Quốc hội còn yếu. |
|
- Sự lẫn lộn giữa chức năng ghi âm, gỡ băng với chức
năng ứng dụng CNTT cũng gây ra nhiều khó khăn cho sự
phát triển ứng dụng CNTT trong Văn phòng Quốc hội.
Gần 1/3 thời gian của phòng máy tính hiện đang tập
trung vào việc ghi âm và gỡ băng. |
|
|