 |
|
Việt hoá PC &
NET |
|
Triết lý “bình
dân” trong thuật ngữ tin học tiếng Anh
ĐINH ĐIỀN |
|
Một trong những nguyên nhân khiến cho tiếng Anh trở
nên phổ biến, chiếm ưu thế trong ngành công nghệ
thông tin (CNTT) là triết lý sâu xa nằm bên dưới của
những thuật ngữ tin học rất phổ biến hiện nay. Đó
chính là triết lý “bình dân” trong thuật ngữ tin học
(triết lý này cũng đã được kỹ sư Phạm Văn Bảy nói
đến trong một buổi hội thảo về thuật ngữ tin học tại
Hội Tin học TPHCM). |
|
Triết lý “bình dân” ở đây có thể được hiểu một cách
nôm na là các thuật ngữ sẽ được hình thành từ những
khái niệm, sự vật thông thường, bình dân, dễ hiểu,
gần gũi với mọi người trong cuộc sống hàng ngày.
Đứng trên quan điểm ngôn ngữ học, triết lý “bình
dân” này sẽ được hiểu là các thuật ngữ được xây dựng
bởi các thực từ (danh từ, động từ, tính từ) thuộc
lớp từ cơ bản. Trong ngôn ngữ học, lớp từ cơ bản bao
gồm những từ có tần suất xuất hiện cao nhất trong
thực tế cuộc sống, như những từ chỉ về: quan hệ thân
thuộc trong gia đình (cha mẹ, con cái, anh em, bạn
bè,...), những sự vật quen thuộc (các động vật
thường gặp, các đồ vật thiết yếu trong đời sống xã
hội,...),... |
|
Thử điểm qua một vài thuật ngữ quen thuộc trong
CNTT, chúng ta sẽ thấy toát lên triết lý sâu xa này,
cũng như thấy được hiệu quả thực tế của triết lý đó: |
|
1. Dùng các khái niệm đơn
giản để giải thích các khái niệm cao siêu. |
|
Chẳng hạn, hai “thuật ngữ” đầu tiên mà mọi người gặp
phải ngay ngày đầu tiên đến với CNTT là “hardware”
và “software”. Ở đây, người ta đã dùng đến hai tính
từ rất “bình dân” là “hard” (cứng) và “soft” (mềm)
để chỉ hai khái niệm đầu tiên rất quan trọng. Thay
vì phải giải thích một cách bài bản như “phần cứng
là tập hợp các thiết bị điện tử được dùng để xây
dựng nên máy tính...” thì giờ đây, khái niệm này lại
được diễn tả một cách nôm na là “phần cứng là những
gì mà ta sờ thấy nó cứng cứng!”. Một cách diễn tả
tuy không bao hàm chính xác được hết mọi ý nghĩa
khoa học của nó, nhưng với các giải thích “bình dân”
ban đầu mà ai cũng hiểu được đã là một thành công
đối với những người mới học. Trong khi đó, để chỉ
hai khái niệm này, tiếng Pháp lại dùng đến hai từ
“hàn lâm” là “matériel” (vật chất) và “logiciel”
(luận lý) để chỉ “phần cứng” và “phần mềm” tương
ứng. Một cách giải thích “cao siêu” và chắc chắn sẽ
trở nên khó hiểu đối với đa số quần chúng. Tính từ
“cứng” và “mềm” này còn được dùng trong thuật ngữ
“dĩa cứng” (hard disk) và “dĩa mềm” (floppy disk). |
|
2. Dùng các quan hệ thân
thuộc trong gia đình, xã hội. |
|
Thuật ngữ “motherboard” (bản mạch mẹ/chính); “parent
directory” (thư mục cha); “child directory” (thư mục
con);... đã sử dụng những từ chỉ quan hệ thân thuộc
trong gia đình như “mother” (mẹ), “parent” (cha-mẹ),
“child” (con). Đây là những từ rất cơ bản và có mặt
trong kho từ vựng của mọi ngôn ngữ là những từ được
mọi đứa trẻ sử dụng đầu tiên khi tập nói. Cũng không
phải ngẫu nhiên khi người ta đã không gọi tấm mạch
chính là “fatherboard” mà gọi là “motherboard”, vì
ai cũng biết trong máy tính, tất cả các tấm mạch con
được gắn trên các khe nằm trên tấm mạch mẹ và được
nuôi dưỡng về nguồn điện (power) và cung cấp dữ liệu
(data) từ tấm mạch mẹ. Trong khi đó, các thư mục con
lại được hình thành và phát triển trên nền các thư
mục cha nhưng độc lập với thư mục cha. Tương tự cho
thuật ngữ “sibling” (anh chị em ruột) để chỉ các dĩa
được sao y từ một dĩa gốc (mẹ). Thuật ngữ “friend”
(bạn bè) để chỉ “hàm” trong lập trình hướng đối
tượng (OOP), có khả năng sử dụng tài nguyên của một
lớp (class) nhưng không phải là hàm thành viên của
lớp đó. |
|
3. Dùng các từ ngắn gọn để
gọi tên các hiện tượng, sự việc cần phải mô tả dài
dòng. |
|
Ví dụ trong xử lý văn bản (word processing), chúng
ta ai cũng hay gặp hai hiện tượng dưới đây và ai
cũng muốn tránh chúng: |
|
a. Hiện tượng còn dư một dòng văn bản của trang cũ
và phải để lố sang dòng đầu của trang mới. |
|
b. Hiện tượng dòng tiêu đề của một mục mới lại bắt
đầu ở dòng cuối của trang cũ. |
|
Để chỉ hai hiện tượng này trong tiếng Anh, họ dùng
hai thuật ngữ rất ngắn gọn, bình dân và quen thuộc
để thể hiện, đó là “orphan” (mồ côi) để chỉ hiện
tượng a và “widow” (goá phụ) để chỉ hiện tượng b.
Chỉ cần một từ “mồ côi” đơn giản để chỉ đến “sự bơ
vơ một mình của đứa trẻ mồ côi khi cha mẹ, anh em ở
bên kia” và khiến mọi người liên hệ ngay với hình
ảnh trực quan “có dòng lẻ loi phải nằm ở trang mới
trong khi tiêu đề và các dòng của mục đó lại nằm
trang trước”. Tương tự cho thuật ngữ “widow” (goá
phụ) khi mượn hình ảnh “một thân một mình ở bên này,
còn toàn bộ chồng - con thì ở bên kia” để chỉ hiện
tượng “một dòng tiêu đề ở cuối trang cũ, còn toàn bộ
nội dung có liên quan thì lại nằm ở trang mới”. |
|
4. Các thuật ngữ mang tính
thực dụng, không câu nệ. |
|
Trong kho thuật ngữ tin học tiếng Anh, chúng ta cũng
bắt gặp các từ không lấy gì làm sạch sẽ, thanh lịch
cho lắm nhưng miễn sao chúng mang tính “bình dân, dễ
hiểu” là được. Ví dụ: Từ “mouse” (con chuột), “bug”
(con bọ, rệp), “web” (mạng nhện),... |
|
5. Dùng các từ chỉ sự vật
quen thuộc. |
|
Trong kho thuật ngữ tin học tiếng Anh, chúng ta còn
có rất nhiều từ quen thuộc, như: “bullet” (dấu chấm
đầu dòng có hình viên đạn),”cylinder” (tập các rãnh
trong dĩa cứng tạo thành hình trụ), “directory” (thư
mục có tổ chức giống như danh bạ điện thoại)”,
“folder” (nơi chứa các tập tin như một cặp đựng hồ
sơ), “menu” (danh sách các lựa chọn như chọn thức ăn
trong bảng thực đơn), “spaghetti code” (mã rối rắm
như... bún), “stack” (ngăn xếp, hầm chứa đồ),
“virus” (chương trình máy tính có khả năng tự nhân
bản để phá hoại như virus sinh học), “wallpaper”
(giấy dán tường),... |
|
Trên đây là một số nhận xét về tính “bình dân” trong
thuật ngữ tin học bằng tiếng Anh. Đặc điểm này là
một trong những nguyên nhân khiến cho các thuật ngữ
tin học bằng tiếng Anh dễ dàng được chấp nhận và phổ
biến ngày càng rộng rãi như trong thực tế hiện nay.
Liệu đó có phải là điều khó cho chúng ta khi muốn
Việt hóa các thuật ngữ tin học tiếng Anh? |
|
|
|
 |
|
 |