|
GÓC THỬ NGHIỆM |
|
HỆ THỐNG PENTIUM4
MỚI: Không đôi, cũng... kép!
PHẠM HỒNG PHƯỚC |
|
Ghi nhận đầu tiên về hệ thống Pentium4 thế hệ
mới, do Công ty Intel Việt Nam vừa cung cấp cho
e-CHÍP chạy thử, là có nhiều cái “đôi”, cái “kép”:
có bus hệ thống 800MHz (gấp đôi bus 400MHz nguyên
thủy của P4), chạy sóng đôi hai thanh DDR SDRAM
(dual-channel), hỗ trợ DDR400, chuẩn AGP 8X (so với
4X trước đây),... |
|
Đều là hàng mới “cắt chỉ” |
|
Ngoại trừ card tăng tốc đồ họa MSI GeForce 4
MX440-8X do Công ty Thái San cung cấp đã có bán tại
Việt Nam từ cuối năm ngoái, còn mới toanh là
mainboard Intel D875PBZ, CPU Pentium4 3,0C bus 800,
ổ đĩa cứng Seagate Barracuda V SerialATA 120GB, bộ
nhớ KingMax DDR400 (400MHz thật sự chứ không phải
loại kích như từng có bán ở Việt Nam). Bây giờ,
chúng ta cùng khám phá một số món “mới cắt chỉ” đó: |
|
1. Mainboard D875PBZ: |
|
Đây là mainboard “khỏe như lực sĩ” mà Intel đưa ra
để phát huy hết thế mạnh của CPU P4 bus 800. Nó được
ghi vào lịch sử Pentium là mainboard bus hệ thống
800 đầu tiên của Intel. Sử dụng chipset mới
“Canterwood” i875P, mainboard này chạy được các CPU
Socket 478 bus 800 và 533 với công nghệ siêu phân
luồng Hyperthreading Technology (HT). Nó có công
nghệ mới Intel Performance Acceleration Technology
(Intel PAT) giúp tăng tốc hệ thống lên nhanh hơn nhờ
giảm thời gian trễ của bộ nhớ. Hệ thống quạt giải
nhiệt của hệ thống được kiểm soát thông minh bằng
công nghệ làm mát chính xác Intel Precision Cooling
Technology (IPCT) điều khiển tốc độ quạt dựa trên
nhiệt độ thời gian thực trong hệ thống, giúp giảm
tiếng ồn không cần thiết và giảm mức tiêu thụ điện. |
|
Mainboard D875PBZ hỗ trợ hai loại bộ nhớ DDR400
(PC3200) và DDR333 (PC2700). Đặc biệt, nó cho phép
cấu hình bộ nhớ kênh đôi Dual-Channel như với các hệ
thống chạy RamBus RDRAM, chạy cặp hai thanh DDR,
giúp tăng băng thông bộ nhớ lên gấp đôi. Với bốn khe
cắm DDR, bạn có thể gắn tới 4GB bộ nhớ. Nhưng khác
với ở hệ thống RDRAM, với D875PBZ, bạn cũng có thể
chỉ gắn một thanh DDR (chọn mode kênh đơn
Single-Channel), dĩ nhiên là băng thông chỉ bằng của
một thanh DDR. Chipset i875P hỗ trợ bộ nhớ có chức
năng tự sửa lỗi ECC. |
|
Bộ điều khiển I/O Cầu Nam South Bridge ICH5 của
chipset i875P cho phép mainboard tự mình ên hỗ trợ
các giao diện SerialATA-150 và Gigabit LAN mà không
cần phải nhờ vả chip điểu khiển của một hãng thứ ba.
Hai cổng SerialATA trên mainboard hỗ trợ công nghệ
Intel RAID 0. Dĩ nhiên, i875P chưa “cắt đứt dây
chuông” với giao diện Parallel ATA IDE nên mainboard
vẫn còn hai đầu cắm IDE hỗ trợ UDMA 33 và
UltraATA/66/100. |
|
Với chipset i875P và mainboard D875PBZ, bạn sẽ không
còn sợ thiếu chỗ cắm các thiết bị USB 2.0 đang ngày
càng phổ biến. Nó có sẵn tới sáu cổng USB 2.0 ở phía
sau, kèm thêm hai cổng USB 2.0 gắn cáp. |

Có sẵn tới sáu cổng USB |
|
Âm thanh on-board dùng chip ADI 1985 Integrated Flex
6-channel cung cấp âm thanh 5.1 với chất lượng hơn
hẳn các mainboard Intel trước đây. |
|
2. CPU Pentium4 3,0C GHz: |
|
Đây là CPU P4 bus 800 đầu tiên của Intel. Sau này,
Intel sẽ đưa ra thị trường các CPU P4 “C” có tốc độ
thấp hơn và cao hơn. Ngoại trừ bus hệ thống FSB
800MHz Quad Pumped Bus, CPU này hầu như không có gì
khác hơn CPU “đàn anh” P4 3,06GHz bus 533MHz ra đời
hồi giữa tháng 11/2002. Nó được sản xuất theo công
nghệ 0,13 micron, Socket 478, bộ nhớ đệm L2 Cache
512KB, công nghệ siêu phân luồng HT,... |
|
Hệ thống P4 bus 800 này gồm các xa lộ cao tốc rộng
thênh thang giúp các thiết bị chạy hết tốc độ của
mình và các dòng dữ liệu lưu thông suôn sẻ với tốc
độ cao. Bus hệ thống FSB 800MHz Quad Pumped Bus
(QPB) cung cấp băng thông hệ thống tới 6,4GB/s (so
với 4,2GB/s của bus 533). Bộ nhớ DDR400 có băng
thông 3,2 GB/s và khi chạy với chế đô kênh đôi
(dual-channel) đạt băng thông bộ nhớ tới 6,4GB/s,
ngang với băng thông của hệ thống. Chính nhờ vậy mà
không còn xảy ra hiện tượng thắt cổ chai do băng
thông bộ nhớ “hẹp” hơn băng thông hệ thống. Giao
diện lưu trữ SerialATA-150 cho băng thông 1,5GB/s để
tốc độ truyền tải dữ liệu qua lại giữa thiết bị lưu
trữ (hiên mới có ổ đĩa cứng SATA) đạt tới 150MB/s
(so với 100MB/s của UltraATA/100 hay 133MB/s của
UltraATA/133). Giao diện AGP 8X cho băng thông lưu
thông dữ liệu video giữa card tăng tốc đồ họa và hệ
thống tới 2GB/s. Cổng Gigabit Ethernet LAN hỗ trợ
tốc độ truyền tải mạng tới 1.000Mb/s. |
|
|
|
Như một nàng... trinh nữ |
|
Hệ thống Pentium4 bus 800 còn quá mới mẻ. Giống như
một nàng trinh nữ đòi hỏi phải dụng công chinh phục
và khám phá. |
|
1. Cấu hình tốc độ CPU: |
|
Chẳng hạn, quan sát mainboard, chúng tôi ngạc nhiên
thấy cái jumper cấu hình BIOS J7J2 sao lại chưa từng
thấy thế kia, hơi bị lớn và nhô lên quá cao như để
cho người ta dễ nắm đầu mà tháo ra gắn vào. Mà thiệt
tình là như vậy. Muốn mainboard nhận diện đúng tốc
độ của CPU 3,0C GHz, bạn phải cắm jumper ở vị trí
cấu hình (BIOS Setup Configuration) rồi mới vào BIOS
thiết đặt hệ số nhân, thí dụ như với con 3,0C GHz là
15 để nhân với xung 200MHz. Xin nói thêm, nhờ chạy
bus 800 với xung 200MHz, con 3,0GHz chỉ cần xài tới
hệ số 15 thay vì tới 23 (x 133 MHz) như ở con
3,06GHz bus 533. |
|
2. Cách gắn bộ nhớ: |
|
Rồi còn phải tham khảo cách gắn DDR SDRAM sao cho nó
đúng mode kênh đôi Dual-Channel để đạt băng thông bộ
nhớ tối đa. |
|
Mainboard có bốn socket DIMM DDR chia thành hai cặp
kênh A và kênh B. Để chạy mode kênh đôi, bạn phải
gắn hai thanh DDR vào cùng thứ tự socket của mỗi
kênh. Nhưng để cho dễ nhớ, bạn chỉ cần thuộc cái
“khẩu quyết”: “lẻ đi với lẻ, chẵn theo chẵn”. Cụ thể
hơn, socket 1 + socket 3 hay socket 2 + socket 4. |
|
Intel đưa ra luật chơi DDR như sau:
- DDR400 chỉ chạy với hệ thống 800MHz.
- DDR333 có thể chơi được cả hai bus hệ thống 800 và
533MHz. Nhưng khi chạy với CPU bus 800, DDR333 sẽ
phải giảm tốc độ xuống còn 320MHz. |
|
Để chạy được mode Dual-Channel, hai thanh DDR phải:
- Cùng dung lượng.
- Cùng công nghệ DRAM (128MB, 256MB, 512MB,...).
- Cùng băng thông bus DRAM (x8 hay x16).
- Cùng dạng một mặt (single-sided) hay hai mặt
(dual-sided). |

Hai thanh DDR gắn theo mode Dual-Channel |
|
Còn thì bạn không cần bận tâm tới chuyện hai thanh
DDR có cùng nhãn hiệu, cùng các đặc tả thời gian,
cùng tốc độ DDR hay không. Tuy nhiên, khi có từ hai
thanh DDR trở lên, hệ thống sẽ chỉ nhận diện tốc độ
của thanh DDR thấp nhất. |
|
3. Cấu hình SerialATA: |
|
Bạn chớ có ngạc nhiên khi BIOS và boot ở ngoài
MS-DOS, thiết bị SerialATA vẫn được nhận diện, nhưng
khi vào tới Windows thì nó mất tiêu. Hiện chỉ mới có
Windows XP chịu chơi với SerialATA và bạn cũng phải
cài driver kèm theo để Windows nhận diện được thiết
bị SerialATA. |

Hai đầu cắm thiết bị SerialATA |
|
Bạn vẫn có thể chạy ổ cứng SATA-150 cặp kè với ATA
IDE mà chẳng có gì phải xích mích nhau. BIOS của
mainboard D875PBZ cho phép bạn thiết đặt ổ nào là số
1, ổ nào là số 2, không để chúng tranh giành nhau,
rách việc. Trên mainboard D875PBZ, nếu chỉ có một
thiết bị SerialATA, bạn phải gắn nó vào đầu cắm
Serial ATA/Serial ATA RAID số 0. |
|
|
|
Chạy nó mới sướng làm sao! |
|
Có thể nói ngay cho ai đó thèm là bộ Pentium4 bus
800 này chạy đã nhất trong các bộ P4 mà chúng tôi
từng vọc trước đây – tất nhiên là kể cả cái gã khổng
lồ 3,06GHz bus 533. |
|
Chúng tôi đã vọc hệ thống này đủ kiểu trên nền
Windows XP Pro SP1: |
|
- Chép nguyên bộ source Windows XP Pro SP1 (484MB)
từ HDD Seagate Barracuda 40GB sang ổ Seagate
Barracuda SerialATA 120GB mất: 41 giây. Nếu chép dữ
liệu đó từ partition này sang partition khác trên ổ
Barracuda ATA 100, mất 1 phút 24 giây, còn giữa hai
partition trên HDD SerialATA mất 1 phút 17 giây. |
|
- Đo băng thông bộ nhớ bằng SiSoft Sandra Pro 2003: |
|
. Với 512MB DRR400 (hai thanh 256MB):
 |
|
Khi chỉ gắn một thanh DDR400 (Single-Channel), kết
quả là: RAM Integer Buffered iSEE2 – 2.958MB/s, RAM
Float Buffered iSEE2: 2.974MB/s. |
|
Để thấy được sức mạnh của bộ nhớ trên hệ thống
D875PBZ, bạn tham khảo: |
|
- DDR400 chạy đơn trên mainboard i845PE: RAM Integer
Buffered iSEE2: 2.900MB/s, RAM Float Buffered iSEE2:
2.912MB/s. |
|
- RamBus PC1066 chạy đôi trên mainboard chipset
i850E: RAM Integer Buffered iSEE2: 3340MB/s, RAM
Float Buffered iSEE2: 3338MB/s. |
|
+ Đo khả năng xử lý các tác vụ hình ảnh 3D với card
MSI GeForce 4 MX440-8X 64 MB bộ nhớ bằng 3DMark2001
SE Pro: |
|
- 512MB DRR400 Dual-Channel (hai thanh): 7745
3DMarks |
|
- 512MB DRR400 Single-Channel (hai thanh): 6192
3DMarks |
|
- 256MB DRR400 Single-Channel (một thanh): 6199
3DMarks |
|
Trong khi đó, hệ thống 3,06GHz bus 533 với 512MB
DRAM PC1066 đạt 7567 3DMarks. |
|
+ Đo tác vụ tính toán của CPU với SiSoft Sandra Pro
2003: ALU 8925 MIPS, FPU 2586/5787 MFLOPS. Trong
khi, CPU P4 3,06GHz bus 533 đạt: ALU 8164 MIPS, FPU
1717/4009 MFLOPS. |
|
+ Đo tác vụ multimedia của CPU bằng SiSoft Sandra
Pro 2003: Integer 13810 it/s, Floating 21869 it/s.
Trong khi ở CPU P4 3,06GHz bus 533: Integer 12156
it/s, Floating 15147 it/s. |
|
+ Mở file ảnh BMP 110MB bằng Photoshop 7 mất 3 giây.
Trong khi ở hệ thống 3,06GHz phải mất 10 giây. |
|
+ Nén file zip 140MB bằng WinZip 8.1 SR-1 mất 21,5
giây. Trong khi ở hệ thống 3,06GHz mất 18 giây. |
|
+ Tạo file MPEG-2 SVCD bằng DVDx 2.0 mất 12 phút 17
giây. Trong khi ở hệ thống 3,06GHz mất 7 phút 12
giây. |
|
Bạn thấy đó, hiệu quả của cái sự đường thông, hè
thoáng (băng thông) nó quan trọng tới chừng nào. Hệ
thống P4 3,0GHz bus 800 vượt qua P4 3,06GHz trong
phần lớn thử nghiệm. |
|
Còn về cái thủ tục “đầu tiên” (tiền đâu)? Căn cứ vào
giá rao trên internet ngày 28/4, giá một bộ P4
3,0GHz bus 800 (gồm CPU và mainboard Intel D875PBZ)
cao hơn một bộ P4 3,06GHz bus 533 (gồm CPU và
mainboard Intel D850EMVR) khoảng 60 USD. Nhưng về
cái khoản bộ nhớ không thể thoát khỏi, với dung
lượng 512MB, bộ nhớ DDR400 (chạy D875PBZ) lại rẻ hơn
RDRAM PC1066 (chạy D850EMVR) tới hơn 150 USD (chỉ rẻ
hơn 40 USD nếu so với RDRAM PC800, nhưng đâu có
ngang cơ). |
|
Tin thêm: Hãng máy tính DELL đã khai thác
ngay cái sức mạnh Hercule của P4 “Canterwood” bus
800 để nhảy vào thị trường các “game sĩ” với dòng
máy Dimension XPS “nhà vô địch” được trang bị CPU
3,0GHz bus 800, bộ nhớ DDR400 tới 1GB, màn hình LCD
TFT 19 inch, card tăng tốc đồ họa ATI Radeon 9800
Pro, card âm thanh Sound Blaster Audigy 2, bộ loa
Logitech Z-680, tới hai ổ đĩa cứng SerialATA Seagate
120GB – 7200rpm, một ổ DVD Lite-On 16x và một ổ ghi
NEC 2.4x DVD+RW. Trời ạ, lại phát thèm nữa rồi phải
không? |
|
|