 |
|
Túi càn khôn IT |
|
HỒ LÔ BIẾN
CHỨNG THƯ ĐIỆN TỬ: LIỆU CÓ ĐÁNG TIN?
HOÀNG NGỌC GIAO (SAMIS) |
|
Nếu thấy trước mặt một trang web bắt mắt, có vẻ
chuyên nghiệp, tiếng Tây tiếng Mỹ đầy đủ, bạn chớ
vội tính chuyện mua sắm, cung cấp số thẻ tín dụng
hoặc cung cấp những thông tin quan trọng, riêng tư.
Nếu địa chỉ mạng mà bạn đang liên hệ không chịu dùng
giao thức bảo mật khi chuẩn bị tiếp nhận thông tin
quan trọng thì có thể kết luận ngay đó là đối tác
không nghiêm túc... Hàng loạt những lời khuyên “Nếu”
sẽ rất bổ ích cho bạn, đặc biệt... nếu bạn chưa rõ
lắm về “cuộc chơi” của những chứng thư điện tử khi
giao dịch qua mạng. |
|
Khi lướt qua những địa chỉ mạng (website) trên
internet, bạn như đi dạo phố. Có những “cửa hàng”
sang trọng, bề thế, trông thật thích mắt, nhưng cũng
có những “khu chợ” đơn sơ, thậm chí... lụp xụp, lem
luốc. Tuy nhiên, “trên mạng” và “ngoài đời” có nhiều
khác biệt (ai từng ôm hận “tình chát” hẳn đã thấm
thía điều này). Bước vào một siêu thị với cơ ngơi
rộng rãi, đầy ắp hàng hóa, bạn yên tâm móc hầu bao.
Nhưng nếu thấy trước mặt một trang web bắt mắt, có
vẻ chuyên nghiệp, tiếng Tây tiếng Mỹ đầy đủ, bạn chớ
vội tính chuyện mua sắm, cung cấp số thẻ tín dụng
hoặc cung cấp những thông tin quan trọng, riêng tư.
Dữ liệu gửi đi từ máy tính của bạn sẽ tìm đường đến
nơi cần thiết qua nhiều máy chủ khác nhau trên mạng.
Không có gì bảo đảm nó không bị dòm ngó hoặc đi “lộn
tiệm” vì mấy tay “hắc cơ hắc ám”. Ngoài ra, việc xây
dựng mặt tiền hào nhoáng trên mạng chẳng khó chi
hết. Có chăng là công khó... cóp nhặt, sao chép, tân
trang. Vì vậy, bạn đừng đo lường uy tín của một địa
chỉ mạng qua bề ngoài của nó. |
|
Dù sao phải nói ngay với bạn rằng giao dịch qua mạng
vẫn có thể an toàn trăm phần trăm. Nếu không thế thì
chẳng thể có khái niệm thương mại điện tử
(e-commerce), cùng nhiều thứ... “điện tử” khác đang
lần lượt xuất hiện. Vấn đề (muôn thuở) của chúng ta
vẫn là “đừng chết vì thiếu hiểu biết”. |
|
Khóa cửa bảo nhau... |
|
Ta cần hiểu biết điều gì trong giao dịch qua mạng?
Có thể nói gọn điều này: Nếu địa chỉ mạng mà bạn
đang liên hệ không chịu dùng giao thức bảo mật
(secure protocol) khi chuẩn bị tiếp nhận thông tin
quan trọng thì có thể kết luận ngay đó là đối tác
không nghiêm túc. Rất đơn giản, bạn liếc nhìn vào ô
địa chỉ của trình duyệt web mà không thấy “https”
đứng đầu hoặc ngó xuống góc dưới bên phải cửa sổ
trình duyệt web mà không thấy hình cái “ổ khóa đóng”
thì biết rằng chưa thể tính chuyện làm ăn (vì như
thế, chẳng khác nào người ta mời bạn ký hợp đồng ở
quán cơm lề đường). |
|
Với giao thức bảo mật HTTPS, dữ liệu trao đổi qua
lại giữa hai phía được chuyển thành dạng mật mã
(cipher). Nhờ vậy, dù có “bàn tay lông lá” nào đó sờ
mó dữ liệu ấy trên đường đi, ta cũng không phải lo
ngại. Khi bắt đầu liên lạc theo giao thức HTTPS,
trình duyệt web của bạn tự động đòi hỏi phía bên kia
xuất trình “giấy chứng nhận” (certificate). |
|
Chuyện này từa tựa như ta vào một cửa hàng và yêu cầu họ
cho xem giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, xem có phù
hợp với bảng hiệu mà họ treo ngoài cửa hay không! Để cho
rõ ràng, ta có thể gọi đó là chứng thư điện tử. Khi
không sợ nhầm lẫn thì ta nói gọn là chứng thư. Nếu bạn
đang muốn liên lạc với Microsoft thì chứng thư gửi đến
cho trình duyệt web giúp bạn tin chắc phía bên kia là
Microsoft chính cống, không phải thứ “ma cô xốp” nào đó
mạo danh. (Bạn chớ nghĩ rằng khi truy cập địa chỉ mạng
của Microsoft thì trang web mà bạn nhận được đương nhiên
là của Microsoft.) |
|
Giấy chứng nhận bao giờ cũng phải được “ký tên, đóng
dấu đàng hoàng” bởi một tổ chức có thẩm quyền nào
đó. Chứng thư điện tử cũng vậy. Tổ chức có thẩm
quyền cấp chứng thư được gọi là CA (viết tắt của
“Certification Authority”, không phải... “Công An”).
Trình duyệt web của bạn sẽ tiếp tục kiểm tra CA, xem
có đáng tin hay không. Nếu chứng thư của CA được ký
bởi CA cấp cao hơn, trình duyệt web lại xem xét CA
cao cấp ấy (láo thế!), cứ như vậy cho đến khi nó
nhận ra CA gốc đáng tin (trusted root CA) đã được
ghi nhớ trong danh sách có sẵn. Các CA gốc nổi
tiếng, có uy tín ở tầm quốc tế như Verisign, Entrust
và Thawte đều có sẵn trong “bộ nhớ” của trình duyệt
Internet Explorer và Netscape. |
|
Có thể cách nói như trên làm bạn hiểu rằng ta phải
thực hiện thao tác kiểm tra phức tạp chi đó khi liên
lạc theo giao thức bảo mật HTTPS. Thực ra, bạn không
phải “động đậy” gì hết, tất cả đều được tiến hành tự
động, âm thầm bởi trình duyệt web. Bạn chỉ “ra tay”
khi nào trình duyệt phát hiện có vấn đề và báo động.
Chẳng hạn, có khá nhiều trường hợp chứng thư điện tử
thuộc loại chứng thư tự ký (self-signed
certificate), đại khái như “tui ký tên dưới đây xác
nhận tui là chính là... tui, không phải kẻ giả mạo
tui”. Nếu vào địa chỉ mạng của một số ngân hàng ở
nước ta, bạn sẽ nhận ra chứng thư loại này khi giao
dịch vì trình duyệt web sẽ báo động ngay (hình 1). |

Hình 1: Báo động của trình duyệt web khi phát
hiện chứng thư được cấp bởi CA mà nó chưa từng biết,
khi thấy chứng thư “quá đát” hoặc không phù hợp với
địa chỉ mạng đang xét. |
|
Khi thấy khung thông báo như vậy, bạn đừng hoảng sợ.
Trình duyệt web chỉ đơn giản muốn bạn lựa chọn cách
ứng xử. Nếu bạn tin rằng không có gì đáng ngại, cứ
tiến hành giao dịch thì bấm vào Yes. “Niềm tin” như
vậy vào đối tác chỉ được trình duyệt ghi nhớ ngắn
hạn. Niềm tin ấy hết hiệu lực khi bạn đóng cửa sổ
trình duyệt. Nghĩa là trong lần trở lại địa chỉ mạng
ấy, trình duyệt của bạn lại tiếp tục “la làng”. Nếu
không tin vào chứng thư của phía bên kia, dứt khoát
chấm dứt giao dịch, bạn chọn No. Trong trường hợp
lưỡng lự, bán tín bán nghi, bạn nên bấm vào View
Certificate để xem thử mặt mũi cái chứng thư “có vấn
đề” ấy nó ra sao: Ai đứng tên, ai cấp, có thời hạn
bao lâu và nhiều chi tiết kỹ thuật khác nữa (hình
2). Sau khi xem xét chứng thư tự ký hoặc được ký bởi
CA “chưa quen”, nếu quyết định tin vào đối tác hoặc
tin vào CA ấy, bạn bấm Install Certificate để bổ
sung danh sách CA đáng tin của trình duyệt. |

Hình 2: Khi xem nội dung chứng thư, ta biết
nó do ai cấp, cấp cho ai và có hiệu lực bao lâu. Nếu
quyết định tin tưởng vào CA cao nhất liên quan đến
chứng thư đang xét, bạn bấm vào Install Certificate
để ghi CA ấy vào danh sách CA đáng tin của trình
duyệt web. |
|
Nói chung, ta chỉ có thể hoàn toàn yên tâm khi chứng
thư được ký bởi các CA nổi tiếng mà uy tín đã được
xã hội thừa nhận. |
|
Khóa bí mật và khóa công
khai |
|
Có lẽ bạn đang “thắc mắc ghê gớm”, không hiểu chứng thư
điện tử thực ra là cái gì, sao lại có chuyện “ký tên”
trong đó, trình duyệt làm thế nào để nhận biết chính xác
chữ ký ấy của ai, liệu có thể xảy ra chuyện nhầm lẫn chữ
ký hay không? Để hiểu chuyện này, bạn cần có vài ý niệm
về mật mã. Chắc bạn đã biết, người ta dùng mật mã để che
đậy một thông điệp được gửi đi, sao cho không ai đọc
được thông điệp ấy trừ những người biết cách phục hồi
nội dung nguyên bản. Quá trình chuyển đổi văn bản bình
thường (plain text) thành văn bản mật mã (cipher text)
gọi là sự mật mã hóa (encryption). Quá trình chuyển đổi
ngược lại, từ văn bản “vô nghĩa” thành văn bản “có
nghĩa”, gọi là sự giải mật mã (decryption). |
|
Hiện nay, hầu như mọi giải thuật tạo mật mã đều dựa
vào việc sử dụng khóa bí mật (secret key, private
key). “Khóa”, hay nói cho rõ là “chìa khóa”, thực
chất là một dãy số được dùng vào việc tạo mật mã
hoặc giải mật mã. Trong lĩnh vực mật mã dùng khóa,
người ta không giữ bí mật đối với giải thuật, chỉ
giữ bí mật đối với khóa. Mọi giải thuật mật mã dùng
khóa đều được công bố rộng rãi. Thế nhưng đối với
một văn bản mật mã cụ thể, ta không thể đọc hiểu nội
dung của nó nếu không có khóa bí mật. Người nhận mật
mã do bạn gửi đến phải có sẵn khóa bí mật cần thiết
hoặc được trao khóa ấy bằng nhiều cách để hiểu được
thông điệp của bạn. |
|
Khóa dùng để tạo mật mã và khóa dùng để giải mật mã
không nhất thiết phải giống nhau (bạn đừng quá lệ thuộc
vào hình ảnh cái khóa cửa!). Trong trường hợp khóa giải
mật mã giống hệt hoặc được suy ra từ khóa tạo mật mã,
người ta gọi giải thuật tạo mật mã như vậy là giải thuật
khóa bí mật (secretkey algorithm). Trong giải thuật khóa
bí mật, khóa tạo mật mã và khóa giải mật mã phải được
giữ bí mật. Nếu người lạ “hắc ám” nào đó biết được khóa
giải mật mã của bạn, thông điệp mật mã gửi cho bạn có
thể bị đọc trộm và mọi chuyện sẽ... “đổ bể”. |
|
Trong trường hợp khóa giải mật mã độc lập với khóa tạo
mật mã, giải thuật được dùng gọi là giải thuật khóa công
khai (public-key algorithm). Trong giải thuật khóa công
khai, không có cách chi để tính ra khóa giải mật mã từ
khóa tạo mật mã. Do vậy, ta có thể yên tâm để “hớ hênh”
khóa tạo mật mã cho “bà con” biết hết (“công khai” nghĩa
là như vậy), chỉ cần giữ kín khóa giải mật mã. |
|
Liệu có khả năng đọc được mật mã mà không cần biết
trước khóa giải mật mã? Bạn có thể yên tâm, người ta
ước lượng việc dùng máy tính để truy tìm khóa giải
mật mã dài 128 bit (như khóa giải mật mã được dùng
bởi trình duyệt web trong giao thức HTTPS) theo kiểu
thử dùng “hết cái này lại cái khác” sẽ mất đến... tỉ
tỉ tỉ tỉ năm! |
|
(còn tiếp) |
|
|
|
 |
|
 |