 |
|
TÚI CÀN KHÔN IT |
|
“BẮT MẠCH” ĐĨA
CỨNG DÙM BẠN
VÕ VĂN THÀNH (SAMIS) |
|
Máy của tôi gần đây chạy chậm
và hay bị treo máy. Tôi cho chạy ScanDisk với kiểu
kiểm tra (Type of Test) là Thorough và chọn
Automatically fix errors (tự động sửa lỗi) nhưng chỉ
chạy được khoảng 10% thì máy bị đứng. Có cách nào để
khắc phục? |
|
- Khi chạy ScanDisk, chọn kiểu kiểm tra là Throrough
và bấm chọn nút Options... Khi xuất hiện khung thoại
“Surface Scan Options”, chọn “Data area only” và “Do
not perform write-testing” (xem hình), rồi bấm OK,
bấm Start để bắt đầu kiểm tra đĩa. Nếu đĩa cứng
không gặp vấn đề gì quá nghiêm trọng thì hy vọng bạn
vượt qua được “cửa ải” này. Nếu kiểm tra thành công,
bạn có thể chạy lại ScanDisk nhưng lần này chọn
“System area only” (tất nhiên vẫn chọn “Do not
perform write-testing”). Nếu việc kiểm tra lần thứ
hai diễn ra suôn sẽ thì bạn thử cho chạy lại
ScanDisk lần thứ ba nhưng lần này chọn “System and
data areas” và không chọn “Do not perform
write-testing”. Nếu lần kiểm tra thứ ba, máy bị treo
thì đĩa cứng của bạn có thể gặp vấn đề khi ghi lên
đĩa. Có nhiều nguyên nhân như: đĩa cứng có “lỗi” về
phần cứng, máy bị virus, trình điều khiển thiết bị
đĩa cứng bị hư, có tranh chấp giữa các phần mềm
không tương thích, đĩa cứng quá nóng... Trước khi
“cầu cứu” chuyên gia, bạn thử thực hiện các bước
dưới đây:
- Tắt máy, chờ cho máy nguội khoảng 30 phút.
- Kiểm tra các cáp nguồn và cáp dữ liệu nối với đĩa
cứng xem có bị lỏng không. Nếu có thì gắn lại cho
chặt.
- Bật máy lại. Nếu máy khởi động vào Windows bình
thường, lưu lại tất cả những dữ liệu cần thiết
(phòng khi đĩa sắp bị hư thật sự). Đây là bước quan
trọng mà bạn nên làm ngay.
- Quét virus.
- Gỡ bỏ bớt những phần mềm mới cài đặt trong thời
gian gần đây hay phần mềm mà bạn thấy không cần
thiết.
-
Nạp lại (từ đĩa kèm theo bo mạch chủ) hay nâng cấp
trình điều khiển thiết bị đĩa cứng (tải về từ
website của hãng sản xuất bo mạch chủ trên
internet).
- Nếu tất cả các bước trên cũng không giải quyết
được vấn đề, có lẽ bạn phải thực hiện bước sau cùng
(dù bạn không hề muốn) là… cài lại hệ điều hành
Windows (nếu đĩa vẫn còn đọc/ghi bình thường). |
|
Khi chạy bất kỳ ứng dụng nào,
tôi để ý thấy khi nó bắt đầu thực hiện tác vụ ghi
lên đĩa cứng là cứ xuất hiện thông báo lỗi “Serious
Disk Error Writing” (lỗi ghi đĩa nghiêm trọng). Có
phải đĩa cứng của tôi sắp bị hư không? Tôi phải xử
lý như thế nào đây? |
|
- Chờ một “xị” (xí), đóng tất cả các chương trình
đang chạy khác, thử cho thực hiện lại tác vụ ghi đĩa
(bằng cách nhấn nút Retry chẳng hạn). Nếu vẫn không
có tác dụng, bạn thử cho chạy chương trình ScanDisk:
chọn Windows Start/Programs/Accessories/System
Tools/ScanDisk. Chọn ổ đĩa cứng, bấm chọn Thorough,
và sau đó bấm chọn Start. Nếu ScanDisk bị đứng, thử
đóng lại và khởi động lại ScanDisk. Nếu ScanDisk báo
lỗi mà nó có thể khắc phục được, bấm Finish và kiểm
tra xem lỗi có được khắc phục không. Nếu ScanDisk
báo là không thể khắc phục được (có thể do sự cố
phần cứng hay hư hỏng vật lý), bạn tắt máy và tháo
nắp máy để kiểm tra bên trong. Kiểm tra lại các đầu
cáp nối (gắn chặt nếu cần), đồng thời kiểm tra xem
nhiệt độ môi trường. Nếu máy quá nóng, bạn cần chờ
khoảng 30 phút đến một giờ cho máy nguội hẳn, sau đó
bật máy trở lại. Nếu máy vào được Windows bình
thường và không báo lỗi ghi đĩa thì cáp lỏng hay máy
quá nóng là nguyên nhân của vấn đề; lúc này bạn nên
tranh thủ sao lưu tất cả các dữ liệu cần thiết lên ổ
đĩa khác. Nếu lỗi ghi đĩa vẫn tiếp tục xuất hiện và
máy cũng không quá nóng thì đĩa cứng của bạn có trục
trặc về vật lý, bạn cần liên hệ với nhà cung cấp nếu
còn thời gian bảo hành. |
|
Tại sao hệ thống của tôi (chạy
Windows 2000) bị treo và hiển thị lỗi 0x00000054
trên một màn hình xanh? |
|
- Bạn có thể nhận được thông báo lỗi này khi bạn gán
một ký tự ổ đĩa cho một phân vùng (partition) đĩa
chưa được định dạng. Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào cấu
hình, máy có thể tự động khởi động lại trước khi bạn
có thể phát hiện được vấn đề. Cho dù máy của bạn có
khởi động lại hay không, bạn có thể thấy trong bản
ghi nhật ký sự cố (event log), phần thông tin về lỗi
như sau: Event Type: Information Event Source: Save
Dump Event Category: None Event ID: 1001
Description: The computer has rebooted from a
bugcheck. The bugcheck was: 0x00000054 (0x003612ca,
0xf2688d00, 0x00000000, 0x00000000). Để giải quyết
lỗi này, bạn thực hiện một trong các động tác sau:
- Sử dụng thành phần Disk Management của Computer
Management Microsoft Management Console (MMC) của
Windows 2000 để xóa phân vùng chưa được định dạng.
- Sử dụng thành phần Disk Management của Computer
Management MMC của Win2K để định dạng phân vùng.
- Sử dụng thành phần Disk Management của Computer
Management MMC của Win2K để gỡ bỏ ký tự ổ đĩa.
Để chạy thành phần Disk Management của MMC trong
Win2K Professional, bạn dùng chuột bấm chọn các mục
theo trình tự như sau (tất nhiên với điều kiện bạn
phải đăng ký vào máy bằng tài khoản người dùng có
quyền hạn của một local Administrator).
Start\Settings\ControlPanel\AdministrativeTools\Computer
Management\Disk Management. |
|
Tại sao tôi nhận được các lỗi
về bộ nhớ hay vùng đĩa trống (storage space) sau khi
cài đặt phần mềm mới? |
|
- Windows XP, Windows 2000, và Windows NT đều có một
trị IRPStackSize kiểm soát việc có bao nhiêu dung
lượng RAM và dung lượng đĩa cứng vật lý còn trống
đối với các ứng dụng mới, nhưng một số phần mềm mới
cài đặt lại thiết lập trị này không đúng. Trị này
trong phạm vi từ 11 đến 20 đối với XP và từ 11 đến
15 đối với Win2K và NT. Nếu bạn thiết lập trị này
nhỏ hơn 11, bạn sẽ nhận được một thông báo lỗi cho
biết rằng hệ thống không có đủ vùng lưu trữ trống
trên máy chủ (hoặc máy đóng vai trò máy chủ trong
một tác vụ chủ/khách nào đó). Kết quả là các máy
trạm (client) sẽ không thể truy cập các tài nguyên
dùng chung trên mạng và mã biến cố (Event ID) 2011
sẽ xuất hiện trong bản nhật ký hệ thống (System
log). Để thiết lập IRPStackSize trở lại trị mặc
nhiên (15 đối với XP, 11 đối với NT), bạn thực hiện
các bước sau:
1. Khởi động registry editor (tức là regedit.exe).
2. Duyệt đến mục khóa
HKEY_LOCAL_MACHINE\\SYSTEM\CurrentControlSet\Services\lanmanserver\parameters
3. Bấm kép IRPStackSize (hoặc nếu mục này chưa có,
tạo mới mục dữ liệu IRPStackSize (nhớ đúng chữ in
hoa và chữ thường) có kiểu là DWORD.
4. Thay đổi base về decimal, thiết lập trị 11 đối
với Win2K hay NT hay 15 đối với XP, và bấm OK.
Khởi động lại máy tính. |
|
Tại sao khi cài đặt Windows
2000 hệ thống bị treo với một lỗi “0x0000001E
exception error”? |
|
- Nếu máy tính của bạn sử dụng một bo mạch chủ với
chipset VIA MVP3 và một ổ cứng Ultra ATA/100, in2K
có thể treo với lỗi mà bạn đề cập. Nói chung, những
bo mạch chủ này không hỗ trợ UDMA 100 mà các đĩa
cứng có đặc trưng kỹ thuật ATA/ 100 yêu cầu (những
bo mạch chủ này thường chỉ hỗ trợ UDMA 33 hay UDMA
33/66). Rõ ràng ổ đĩa không báo cho hệ thống biết về
khả năng tương thích lùi (backward compatibility),
và vì quá trình cài đặt Win2K lại chú ý rất kỹ về
phần cứng, hệ thống bị treo ở điểm này Có thể thực
hiện một trong hai giải pháp sau để khắc phục:
- Nâng cấp BIOS của bạn, nếu việc làm đó sẽ cho phép
hệ thống của bạn hỗ trợ ATA/100 (UDMA 100).
- Thực hiện những thay đổi sau đây đối với BIOS của
bạn:
1. Vào BIOS và vô hiệu hóa (tắt) UDMA trên kênh IDE
nối với đĩa cứng của bạn (chẳng hạn kênh Primary
IDE).
2. Vẫn ở trong BIOS, thiết lập chế độ programmed
input/output (PIO) ở Mode 4 thay vì để Auto.
3. Cài đặt Win2K. Việc cài đặt sẽ tiếp tục mà không
gặp rắc rối gì.
4. Khôi phục lại hai thay đổi đối với BIOS mà bạn đã
thực hiện ở bước 1 và 2 trở lại các trị đã có trước
đó và xem thử Win2K có còn chạy ổn định không.
5. Nếu Win2K không ổn định, có lẽ sẽ cần phải giữ
lại hai thay đổi mà bạn đã thực hiện đối với BIOS
nếu như bạn vẫn sử dụng ổ đĩa đó. Bạn nên sử dụng ổ
đĩa cứng ATA/100 với một bo mạch chủ cũng hỗ trợ
ATA/100. |
|
Khi cài đặt Windows 2000, tôi
gặp phải lỗi “Windows 2000 could not locate your
hard disk”. Tại sao xảy ra chuyện này? |
|
- Có nhiều khả năng bạn cần phải cài đặt các trình
điều khiển thiết bị lưu trữ của hãng thứ ba (third
party mass storage device drivers) vào lúc bắt đầu
quá trình cài đặt bằng cách nhấn phím F6. Bước này
sẽ cho phép bạn mô tả và cài đặt các trình điều
khiển SCSI hay UDMA 100/66 do hãng sản xuất cung
cấp. |
|
Tôi có một hệ thống dual-boot
gồm Windows 98SE và Windows 2000 trên các phân vùng
(partitions) riêng biệt. Mọi thứ đều làm việc tốt
ngoại trừ một điều là tôi không thể đọc được phân
vùng Windows 2000 khi khởi động Windows 98SE. Tại
sao vậy? |
|
-
Khi cài Windows 2000, bạn đã chọn định dạng phân
vùng NTFS. Windows 98SE chỉ đọc được FAT 16 và FAT
32. |
|
Tôi mới nâng cấp máy lên
Pentium 4 và vẫn muốn sử dụng lại ổ đĩa cứng cũ
420MB làm ổ đĩa thứ hai. Tuy nhiên, hệ thống lại
chạy không ổn định (bị treo hay báo lỗi), nhất là
mỗi khi truy cập ổ đĩa thứ hai. Vì sao vậy? Phải
giải quyết như thế nào? |
|
- Có thể có nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân đầu
tiên mà tôi nghĩ đến: Có thể ổ cứng cũ của bạn không
theo kịp… “siêu tốc độ” của phần cứng mới nâng cấp.
Ổ cứng cũ mà bạn muốn sử dụng lại được sản xuất từ
khoảng năm 1997 trở về trước. Những ổ cứng này chỉ
có thể chạy ổn định ở chế độ PIO thấp (khoảng từ 0
đến 2), do đó nếu vô tình bạn thiết lập chế độ PIO
trong BIOS ở kênh IDE kết nối với đĩa cứng cũ của
bạn (ví dụ Secondary Slaver) ở mức cao (4 chẳng hạn
– đây là mức có tốc độ truy xuất cao nhất đối với
PIO) thì ổ cứng cũ của bạn có thể không “đuổi kịp”
tốc độ Bus và có thể dẩn đến những rắc rối như bạn
vừa nêu. Để kiểm tra chế độ PIO ở mức cao xem có
phải nguyên nhân của vấn đề này hay không, bạn có
thể thực hiện những bước sau đây:
- Bố trí ổ cứng cũ của bạn ở một kênh IDE riêng biệt
với kênh kết nối ổ cứng mới (thường có tốc độ cao và
có hỗ trợ DUMA), chẳng hạn kênh IDE thứ hai
(Secondary IDE).
- Thiết lập ổ cứng ở chế độ Slave (bằng cách bố trí
lại các jumper ở trên đĩa cứng), bạn có thể dành
Master cho ổ CD chẳng hạn (nếu có thể).
- Vào BIOS thiết lập chế độ PIO đối với Secondary
Slave PIO ở trị thấp hơn trị hiện có, hoặc tốt nhất
là bạn để ở chế độ “Auto” để cho hệ thống tự nhận
diện chế độ thích hợp.
- Khởi động lại máy và kiểm tra xem vấn đề còn xảy
ra khi truy cập ổ cứng cũ nữa hay không. |
|
|
|
 |
|
 |